
Ngh́n năm đất tổ Luy Lâu
Chuyện xưa trăng rụng chân cầu thế thôi !
(TK)
Không ai biết ông là người xứ nào.
Có người hỏi, ông nói đến một miền đất xa xôi có tên gọi
thật khó nhớ. Cứ vậy rồi thân thế của ông trong trí nhớ
thiên hạ cũng mơ hồ như cái địa danh xa lạ đó. Nhiều lắm là
có người c̣n nhớ được một chuyện lạ xăy ra vài hôm trước
ngày ông đến đây. Lần đó, suốt hai đêm liền, thôn trưởng
làng Nhơn Trạch nằm mơ thấy một lăo hành khất rách rưới ghé
làng rồi đến ngũ nhờ trước hiên nhà ông. Lăo lạ lùng lắm,
không thấy ăn uống ǵ, và đến không chào hỏi mà đi cũng
không từ biệt. Chuyện kỳ dị là ngay sau lúc lăo bỏ đi, trên
chổ nằm c̣n ấm hơi người ấy, thôn trưởng đă nhặt được một
thỏi vàng ṛng chói ḷa. Ông đă cho người chạy theo lăo hành
khất để trả lại, nhưng lăo im lặng lắc đầu rồi thoáng mất
như bóng ma trên con đường c̣n đầy sương sớm.
Không phải người nông cạn dễ tin
với những mộng mị hoang đường, nhưng lần này thôn trưởng vẫn
thấy có chút kỳ lạ. Giấc mơ đêm trước và đêm sau giống nhau
từng nét và rơ ràng như chuyện thật giữa ban ngày. Mấy hôm
sau, ông có việc đi ngang ngôi đ́nh cuối làng và nh́n thấy
một du sĩ đang thọ trai ở đó. Thức ăn chỉ là chút cơm bánh
trong b́nh bát khất thực. Thôn trưởng thoáng giật ḿnh. Trên
gương mặt trung niên kia, ông vừa nh́n thấy ánh mắt sâu thẳm
của lăo hành khất trong giấc mơ đêm trước !
Ngày đó, đạo Phật c̣n rất lạ lẩm
với người dân xứ này. Thiên hạ chỉ thỉnh thoảng kể nhau nghe
về một vài tu sĩ ăn mặc lạ lùng theo các tàu buôn xứ ngoài
đến đây từ một miền đất nào đó có cái tên như là Thiên Trúc,
gọi theo các khách trú phương Bắc. Hôm vị du sĩ lên bờ khất
thực, dân làng không biết ông muốn ǵ khi ngôn ngữ bất đồng
và chỉ thấy ông im lặng bước đi trên đường làng, tay ôm b́nh
bát, một món vật dụng mà họ chưa từng thấy qua bao giờ.
Trong hoàn cảnh khó xử ấy, một khách đi đường xem chừng cũng
người xứ ngoài đă rẻ vào quán nước bên đường chọn lấy vài
thứ bánh trái đem đến đặt vào b́nh bát của vị du sĩ rồi im
lặng bỏ đi, không nói ǵ. Cả người cho lẫn người nhận đều im
lặng. Dân làng thấy lạ, nhưng mấy ngày kế đó, họ đă biết làm
ǵ khi thấy ông khất thực. Dân chúng ở đây phần lớn mù chữ,
nhưng ai cũng có ḷng. Sau một vài hôm, họ dần dần biết ông
không ăn buổi chiều, khi khất thực chỉ nhận những thứ không
cần nấu nướng và không cất lại phần thức ăn dư.
Vị du sĩ thường qua đêm trong
đ́nh làng và ban ngày sau giờ khất thực người ta vẫn thường
nh́n thấy ông ngồi im lặng một ḿnh ở đâu đó trên đồi cây
hay ngoài băi sông vắng người. Thi thoảng người ta có nghe
vài câu tṛ chuyện của ông với đám trẻ chăn trâu, và có lẽ
qua chúng, ông đă từng ngày học thêm tiếng địa phương để nói
được những câu chữ đơn giản : Đừng giết, đừng trộm, đừng dối,
đừng say, đừng tham, đừng giận. Dần dần, ông c̣n dạy chúng
những bài hát nghe chừng ngô nghê như đồng dao:
Nhanh quá phù vân
đời có rồi không
buồn vui vinh nhục
trăng rụng trên đồng
người rồi về đất
như nước về sông
mang ǵ theo được
ngoài một tấm ḷng…
Chữ nghĩa mơ hồ, chỉ cần chút vần
điệu là lũ trẻ có thể gỏ sừng trâu mà hát. Chúng hát hồn
nhiên không cần nghĩ ngợi xa xôi. Nhưng rồi ngày kia cũng có
đứa hỏi ông bài hát đó nói ǵ, ông bảo:
- Trái không độc th́ ăn được, lời không phiền người th́
nói được, việc không hại người th́ làm được, câu có vần điệu
th́ hát được. Cứ hát, cứ sống như trẻ con để khi hiểu được ư
nghĩa cuộc đời th́ cũng là lúc phải đi xa một ḿnh rồi.
- Đi xa là về đâu thưa ông ?
Vị du sĩ mỉm cười trỏ tay về mấy g̣ đất bên đường. Đám
trẻ tỏ dấu rùng ḿnh. Chúng từng nghe người lớn trong làng
bảo đó là những nấm mồ vô danh không biết của ai.
Mùa hạ năm đó, trong làng có
người mắc bệnh lạ, thuốc thầy ǵ cũng không chữa khỏi. Đường
cùng, dân làng bàn nhau đến cậy nhờ vị du sĩ như để cầu may,
một phần cũng v́ có kẻ nhất mực cho ông là một phương sĩ lưu
lạc thế nào cũng biết vài món huyền thuật để pḥng thân.
Nghe dân làng thưa chuyện, vị du sĩ mỉm cười :
- Ta chưa từng biết đến thứ ǵ là linh phù, thần dược
hay cầu đảo quỷ thần. Sa môn dù có riêng biệt dặm mây cũng
phải có lúc thuận theo thế thường mà liệu việc: Uống ăn phải
lẽ, thuốc thang hợp cách, tâm bớt tham giận, tận dụng thanh
khí, thân thường vận động. Đó chẵng là phép dưỡng sinh hữu
hiệu nhất đó sao !
- Xin thưa, lời thầy thậm phải, nhưng dường như trong
cơi nhân gian đôi lúc c̣n có những thứ nằm ngoài điều thường
thức vốn chỉ có thể nhận biết bằng việc thấy nghe …Nay xin
được nghe về điều ấy, ít ra cũng để trấn an ḷng người.
- Th́ ra là thế. Nếu đă thử qua nhiều cách, giờ c̣n một
cách may ra giúp được ǵ chăng : Gom hết ăn mày làng trên
xóm dưới về và tùy sức ḿnh mà cho gạo thóc áo quần rồi một
ḷng nghĩ tưởng đến hàng khuất mặt như là những người thân
để chia sẻ công đức này và nguyện được b́nh yên. Nếu chẵng
mắc trọng nghiệp tiền thân th́ cách này xem ra cũng có chổ
hi vọng.
Dân làng theo lời và chuyện lạ
lùng khó ngờ được đă xăy ra. Hơn chục kẻ bệnh trong làng
bỗng dưng khỏe lại như chưa từng đau. Dân làng cảm mộ ân đức
vị du sĩ, họ góp sức nhau dựng cho ông một thảo xá xinh xắn
nằm biệt lập ở băi sông cuối làng. Vị du sĩ chịu về thảo xá
để không phụ ḷng thiên hạ, nhưng bao nhiêu lễ phẩm mang đến
cúng dường đều bị ông từ chối.
Ông tiếp tục khất thực mỗi sáng,
và thức ăn c̣n lại luôn chia đều cho đám trẻ chăn trâu.
Trước sau dường như ông chỉ độ được lũ con nít này. C̣n
người lớn, phục ông th́ có phục, nhưng họ không thể thân
cận. Lời ông nghe ra quá khô khan khó hiểu, và điều đáng nói
là ông đă không có được một vẻ ngoài khuất lấp mơ hồ để họ
phó thác thứ niềm tin thần mị. Ông luôn là một người quá
thực tế, minh bạch. Mà đó lại không là điều thiên hạ mong
mơi. Họ muốn thấy ông phù phép thần bí, thậm chí có chút cơ
xảo cũng được, miễn là kín đáo tinh vi một tí để ḷng phàm
dễ dăi của họ có chổ tựa nương. Nói cho cùng, những thứ ông
có th́ thiên hạ không cần và thứ họ cần th́ ông không có.
Thế là dù vẫn mỗi sáng đặt bát cúng dường vị du sĩ, nhưng
đối với dân làng ở đây việc t́m đến lắng nghe ông vẫn cứ là
điều bất tiện.
Ḍng đời trôi nhanh như con nước.
Vị du sĩ đă trăi hơn mười mùa mưa ở làng Nhơn Trạch. Một đứa
trong đám trẻ chăn trâu xem chừng có nhiều ngộ tánh đă tự ư
xin theo vị du sĩ để làm học tṛ và kiếp tu của nó cũng được
vỡ ḷng bằng mấy bài hát đồng dao mà mỗi chặng đời sau này
chỉ là từng bước thấm thía những huyền nghĩa trong đó.
Một đêm mùa đông, sương trắng ở
đâu về giăng kín làng và sáng hôm sau người ta mới hay vị du
sĩ đă lên đường đi mất, để lại ở thảo xá kia một nhà sư trẻ
tuổi tiếp nối chuyện kệ sớm kinh chiều.
Những buổi mưa khuya nằm một ḿnh
ở thảo xá quạnh hiu, nhà sư trẻ kia cứ ngẩm nghĩ măi vẫn
không hiểu được câu nói lấp lững mơ hồ của sư phụ trong đêm
từ biệt:
- Xứ này âm thịnh dương suy.
Chánh pháp là mặt trời lớn nên dễ khiến thiên hạ e ngại. Họ
chỉ có thể đón nhận cái ǵ nhẹ nhàng, êm mát như ánh trăng
chẵng hạn. Ánh trăng cũng là ánh sáng mặt trời nhưng đă qua
một miền trung chuyển. Con rồi cũng có lúc phải bỏ đây mà
lên đường, nhưng khi đó nơi này sẽ là một đạo tràng lớn mạnh
và chính con là người khởi dựng công tŕnh ấy. Đừng quên lời
ta, lúc ấy hăy đặt tên chùa là Hiệp Phố…
Sao lại là Hiệp Phố ? Tên gọi đó
nào có ư nghĩa ǵ trong Phật điển hay văn chương. Dường như
đó chỉ là một địa danh cũ ở đất Giao Châu xưa. Thầy nhớ từng
nghe qua nơi chốn này từ các kỳ lăo. Sao lúc nào lời sư phụ
cũng có âm hưởng đồng dao. Ông yêu tuổi thơ hay chưa từng
tin cậy người lớn ?
-------------xxx-------xxx------------
Hai mươi năm sau, nhà sư trẻ ngày
xưa giờ đă trọng tuổi. Sau mấy lần thay mái sửa vách cho
thảo xá, ông đă đi xin gạch vụn về rồi tự tay trộn vữa làm
chùa bằng vôi bột, bă đường với nhựa dây tơ hồng hái từ
ngoài băi. Việc xong, ông đặt tên chùa là Hiệp Phố. Trong
chùa bây giờ ngoài ông, c̣n có một bà cụ cũng người phương
ngoài xô dạt đến đây xin làm công quả.
Một đêm mưa gió mịt mù, anh đánh
dặm ngoài làng đă vớt được trên sông một tráp gỗ quách am
thơm lừng và trong đó là một đứa bé c̣n đỏ hỏn. Anh đánh dặm
muốn nuôi làm con, nhưng xem lại thấy nó là gái, anh có chút
ái ngại rồi đem giao cho bà cụ trên chùa. Đứa bé được đặt
tên Phù Di (con mọi trôi sông) và dễ nuôi kỳ lạ, chỉ uống
nước cơm, cháo loăng mà bụ bẩm mau lớn không ngờ. Vừa lên
sáu tuổi nó đă nhận được mặt chữ, hoành phi trướng liễn thấy
được ở đâu một lần đều có thể viết lại không thiếu một nét.
Thầy trụ tŕ thấy lạ, đem các sách An Ban, Lư Hoặc dạy cho,
thảy đều nằm ḷng chẵng sót.
Năm mười ba tuổi, dù ăn vận nâu
ṣng, nhưng Phù Di cứ đẹp như hoa: Răng ngọc, môi hồng, cao
lớn cân đối, đă vậy lại ăn nói ư tứ, sâu sắc. Có điều kỳ lạ
là cô bé như căm ghét đàn ông, bất luận tuổi tác. Ngoại trừ
sư phụ là trụ tŕ chùa Hiệp Phố, cô bé luôn tránh mặt nam
giới. Tuy thế, điều đặc biệt là từ sau ngày có cô, khách
thập phương đến viếng chùa như đông đảo hơn. Người ta thích
nghe cô tụng kinh, nói chuyện. Giọng cô khi vui như tiếng
hoàng yến, lúc buồn nghe như ngọc vỡ. Mấy hôm sư phụ có
bệnh, cô đứng làm chủ lễ, người xem như hội.
Một khuya, thỉnh chuông đă lâu,
không thấy sư phụ lên điện tụng kinh, Phù Di cùng bà cụ
xuống tăng pḥng gỏ cửa măi không nghe thấy tiếng trả lời.
Sau đó biết ra là thầy trụ tŕ đă bỏ chùa ra đi với mấy chữ
nhắn lại, viết trên vách gỗ, đọc tựa đồng dao :
Duyên đến duyên đi
Nhân sinh mấy th́
Chim chiều về núi
C̣n chi, mất chi
Chết là tử biệt
Sống là sinh ly
Kẻ sau, người trước
Ai khứ, ai quy
Phù Di chẵng tỏ vẻ ǵ, mắt chỉ đỏ
hoe, xưa giờ ít nói, nay càng im lặng. Ba năm sau, bà cụ
mất, Phù Di tṛn mười tám tuổi. Cô tự thí phát và chiêu tập
ni sinh. Chỉ trong mấy năm, chùa Hiệp Phố đă có một ni chúng
trên mười vị, ai cũng chữ nghĩa biện tài. Và trong chùa
ngoài cổng lúc này đều được sửa chữa to rộng đẹp đẽ hơn
trước, chỉ riêng điện Phật bằng gạch cũ th́ vẫn được giữ
nguyên như xưa để làm nơi tôn trí di vật của hai đời sư
trưởng trước kia.
Ni trưởng Phù Di rất giỏi nghi
lễ. Rằm nguơn sóc vọng trên chùa hay chuyện tang tế trong
làng đều một tay cô sắp xếp. Cô soạn lại các bài tụng, thêm
bớt các lễ tiết, lại nghĩ ra nhiều cách ngâm xướng khác nhau
cho từng trường hợp tụng niệm. Cô cũng vẽ lại các kiểu mẩu
tranh tượng và kiến trúc đền tháp. Tiếng tăm đồn đại, không
ít chùa xa cũng đă đến tham khảo học hỏi. Nhưng không phải
ai cũng đồng ư với Phù Di, thậm chí có người không phục, cho
cô là xem nặng h́nh thức, bày vẽ dư thừa. Phù Di trả lời xa
xôi :
- Đất này xưa từng có cao nhân
dừng chân hoá độ, chỉ tiếc ở đây âm thịnh dương suy nên
không chịu nổi hùng lực của chánh pháp. Thương đời không
hưởng được ánh nắng, tổ sư đă gợi ư hậu sinh dùng phương
tiện ánh trăng để chiếu soi đời mạt pháp. Đạo ta kể ra cũng
có âm và dương, có tánh và tướng, có h́nh thức và nội dung.
Trí tuệ nội quán là phần dương cực, nội dung của đạo. Cúng
tế lễ lạc là phần âm cực, h́nh thức bên ngoài của đạo, như
ánh trăng chỉ là phản quang của mặt trời. Hai đời trụ tŕ ở
đây trước kia đều là nam giới, nên xem ra chẵng hạp thủy thổ
với đất này. Trí tuệ nội hướng của các vị cứ khiến thiên hạ
thấy xa lạ, khôn kham. Ta nay thân nữ, có lạm dụng chút h́nh
thức lễ nghi nào đó th́ cũng coi như đang dùng ánh trăng
phương tiện để hoằng đạo mà thôi. Ngay đến việc ta bày ra
các giọng ngâm xướng kinh kệ cho có vần điệu cũng chỉ nhằm
thuận ứng ḷng người ở đây. Chúng sinh ở chốn biên địa lại
trong thời mạt pháp th́ chỉ cần nghe để gieo duyên, chứ
không thể hiểu để chứng ngộ. Các tiền bối của ta xưa c̣n
dùng đến đồng dao để hoá độ th́ việc ngâm xướng du dương hôm
nay cũng hợp lẽ mà thôi. Về việc có ai đó cho ta không phải
chánh tông truyền thừa, tự ư khai sơn, th́ cũng xin trả lời
chung là nếu thầy ta là gốc đă đi xa th́ ta là ngọn cũng nên
nấn ná mà che mát khách đường trong giây lát. Nếu đă là vật
tạm th́ luận chi đến chuyện khai giáo hay truyền thừa chứ !
Năm Phù Di đúng bốn mươi tuổi,
một sáng đích thân lau dọn gian pḥng cũ của sư phụ đă t́nh
cờ bắt gặp một tráp gỗ lớn thơm ngát, dài khoảng mấy gang
tay, nằm kín đáo dưới gầm giường. Nàng bất giác liếc nh́n về
bàn thờ sư phụ rồi mở tráp. Một mảnh giấy vàng ố nhưng vẫn
c̣n nguyên vẹn những ḍng bút tích của ông:
- “ Ngày mồng sáu tháng bảy năm
Canh Tuất, thiện nam Nguyễn Hoắc đến chùa giao một bé gái
trôi sông nhờ cụ bếp Ngô Thị nuôi hộ. Ngoài chiếc tráp bằng
gỗ quách am, bên cạnh đứa nhỏ c̣n một miếng ngọc khắc chữ,
hẳn là tên người. Ta là trụ tŕ tạm cho đứa bé cái tên Phù
Di để ngừa chuyện hung hiểm cho nó. Mai sau nếu tu hành sẽ
có pháp hiệu, nếu về đời có thể dùng lại tên họ trên miếng
ngọc để tương nhận thân bằng ”.
Phù Di đọc nhanh cái tên ḿnh
được khắc trên miếng ngọc trắng muốt. Lư Gia Bảo Châu. Cô bé
tên Bảo Châu con nhà họ Lư. Nàng bỗng lạnh người nhớ đến mấy
câu nói của sư phụ năm nào:
- Thầy ta từng dặn phải đặt tên
chùa là Hiệp Phố…. Lại bảo ta rồi sẽ bỏ đi và mai sau ở đây
sẽ là một đạo tràng lớn mạnh. Nhưng trước mắt có ai đâu, Phù
Di c̣n bé thế này lại chẵng phải là tăng.
Hai trong ba điều ấy nàng đă
hiểu. Sư phụ của Phù Di đă ra đi từ năm nàng vừa tṛn mười
lăm tuổi và nơi đây bây giờ ít nhiều cũng đă là một đạo
tràng tiếng tăm. C̣n v́ sao tên chùa phải là Hiệp Phố ? Phải
chăng sư ông đă biết trước rằng người sẽ trùng hưng ngôi
pháp vũ này là một bé gái mồ côi, và lẽ nào tên nàng lại có
thể ứng với tên chùa theo lời sư ông đă dặn…
Phù Di thầm th́ trên môi :
- Chùa Hiệp Phố… Lư Gia Bảo
Châu…Châu về Hiệp Phố !
Rơ ràng nơi đây đă là chốn về của
con bé Bảo Châu, và Phật pháp qua cách ứng dụng của nàng quả
nhiên có phần đắc địa ở đây như một duyên nghiệp của chúng
sinh sở tại. Đó chẵng là ư nghĩa của dụ ngôn Châu Về Hiệp
Phố đấy sao !
Như có ai đó xô đẩy, ni sư Phù Di
từng bước tiến lại quỳ sụp trước bệ thờ hai thầy phương
trượng. Một chút hương trầm bay nhẹ quanh nàng.
TOẠI KHANH
FL 05/2005
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT