|
TÔN CHỈ VÀ LỜi GIỚI THIỆU GIÁO HỘI PHẬT GIÁO
VIỆT NAM THỐNG NHẤT:
  
VÔ TRỤ BẤT THỦ - SỨ
MỆNH ĐỘ SINH
CỦA CHƯ ĐẠI BỒ TÁT
Sư tử hống thời
phương thảo lục
Tượng vương hồi xứ
lạc hoa hồng
  
Hành tung của chư vị
Bồ Tát, mang nhục thân thị hiện cơi Ta bà, hóa độ chúng sanh,
bằng cái nh́n b́nh thường của con người không thể nào biết
được. Chư đại Bồ Tát vân du tự tại khắp mọi nơi, khi tâm
lượng chúng sanh cảm th́ Bồ Tát ứng, khi chúng sanh niệm
tưởng danh hiệu th́ Bồ Tát hiện tiền. Tâm đại bi và bản
hoài tế độ bao trùm khắp thế giới ba ngàn, ḷng đại bi vượt
lên nhị biên đối đăi. Hàng chúng sanh, tập thể loài người
thành kính ngưỡng vọng, những đóa hồng liên xinh tươi đang
rực cháy trong ḷ lửa đỏ, nhưng vẫn hiến dâng cho đời ngào
ngạt hương thơm. Ḥa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, tên
Người khởi xướng phong trào đấu tranh bất bạo động, đ̣i tự
do nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam, đang bị nhà cầm
quyền lưu đày, tống giam biệt xứ, cắt đứt sự liên lạc giữa
người với người, giữa Thầy với tṛ, giữa t́nh ruột thịt máu
mủ, tông môn. Cộng sản Việt Nam có thể trù dập xác thân
Người tứ đại, ngũ uẩn tạo thành, nhưng không thể nào lay
chuyển, xoi ṃn ư chí kiên định như kim cương và tâm thức
sáng ngời như sao Bắc Đẩu của nhị vị Ḥa thượng. Ư chí và
tâm thức đó là bài kinh được tụng lên từ khung trời lửa đỏ
đang hực cháy, làm hướng đi đích thực cho dân tộc Việt hôm
nay, cho đạo pháp ngàn sau noi gương Người hùng lực: xác
thân nguyện làm đại Bồ Tát; tâm linh nguyện là bầu trời Như
Lai để ngàn sao c̣n lấp lánh, soi rọi tận cùng nơi vô thức
của kiếp người cộng sản Việt Nam.=>
TIẾP THEO
Mùa Đông Cali, tháng
12, 1995
Kính bút,
Thượng Tọa Thỉch
Nguyên Siêu (Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá GHPGVNTN Văn
Pḥng II Hoa Kỳ)
Gương
Sáng Việt Nam (Rất Nên Đọc)

Người viết: NGUYỄN DUY AN
Bài số 768-1347-193-vb3061405
Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân
Virginia, hiện là Vice President Information Technology của
NATIONAL GEOGRAPHIC. Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, ông
gửi một tự truyện và một truyện t́nh, đều bắt đầu từ B́nh
Giả, một địa danh quen thuộc của Việt Nam thời chiến. Chưa
đầy 3 tuần sau khi bài lên Việt Báo online, đă có hơn 3,600
người đọc “truyện t́nh cờ”, hơn 3,000 người đọc tự truyện
của chàng trai B́nh Giả. Cả hai bài hiện dẫn đầu trong số 10
bài có nhiều người đọc nhất. Sau đây là phần tiếp tự truyện.
=>Tiêp Theo
H́nh
ảnh Chị Như Không(đạo hữu Từ Hạnh) Đại Diện Nhóm Thảo Luận
Phật Pháp và quư Phật Tử gần xa Trong Chuyến Về Việt Nam Cứu
Trợ Đồng Bào Miền Trung vào tháng 10-11 Năm 2006(slide show)
XIN
ĐỪNG BỎ RƠI TÔI - BÀI HÁT "LỜI QUÊ HƯƠNG"
NHẠC PHAN NI TẤN PHỔ THƠ TRẦN TRUNG ĐẠO, NHỚ
VỀ VIỆT NAM.
   
H́nh
ảnh đạo hữu Đoàn Như và Không Thúy trong sinh hoạt Từ Thiện
Lá Lành đùm Lá Rách tại Việt Nam 2004-2005
Vườn
Hoa Đạo: Bạn
có biết: Đạo Hữu Thừa
Thiên (Huệ Nhat) thanh viên nhóm
TuBiTam đa tinh dây hoan toan sau
gan hon 1 nam coma ! NAM MO BON SU THICH
CA MAU NI PHAT.
Ghi Nhận và Góp Nhặt:
BÀ
CHÚA XỨ
Ni Sư Như Thủy
Thuở xưa có một anh
chàng xấu xí kia, con
nhà nghèo, thất học,
phải sinh sống bằng nghề
khuân vác mướn ngoài chợ. Người
ta gọi anh là thằng Bu.
Bu làm việc siêng năng
giỏi dắn nên cuộc sống
của anh không lấy ǵ làm
chật vật cho lắm. Có
điều anh rất buồn khi
chung quanh chẳng có ai
coi trọng nể v́ anh hết.
Cũng như hầu hết mọi
người, anh thèm thuồng
được quyền uy, ḷng ái
mộ khát ngưỡng của đồng
loại. Mặt mũi anh đă
không thuộc loại đẹp
trai, anh lại không có
một làn hơi thiên phú để
ca vọng cổ hay tân nhạc,
nên anh không thể tiến
thân bằng con đường văn
nghệ. Anh lại tứ cố vô
thân không tiền của nên
khó mà mua danh vọng
chức tước, chữ nghĩa lại
chẳng bằng ai.... Vậy
th́ phải làm cách nào
cho thiên hạ ngán ḿnh
đây ? Suy nghĩ suốt một
đêm chàng Bu nẩy ra một
sáng kiến. Một hôm, sau
vài ly ba xị đế, Bu đến
ngồi trước miễu Bà Chúa
Xứ. Bu đến trước cửa
miếu, ngồi lắc lư ợ ngáp
liên hồi.... Ban đầ�u
chỉ có bọn trẻ con tụ
tập chung quanh anh. Sau
đó là các bà vô công rỗi
nghề, rồi dần dần có đến
cả hội đồng bô lăo của
làng nữa. Người ta nh́n
nhau th́ thầm : "Bà về
! Bà về !". Vài mụ đàn
bà góp ư : Khoảng nửa
tháng nay đêm nào tôi
cũng thấy có cục lửa to
xẹt lên xuống ngang cḥm
cây nầy. Tui sinh nghi
trong bụng mà không dám
nói ra chớ. Mỗi người
góp một ư, vàng hương
hoa quả được mang đến và
chàng Bu nghiễm nhiên
thành cái xác của Bà
Chúa Xứ. Từ đó, Bu không
c̣n phải đi khuân thuê
vác mướn nữa, người ta
gọi anh bằng "Bà", bằng
"Ngài", xúm xít cười vả
lả, đón rước những lờ�i
nũng nịu, ơng ẹo thốt ra
từ đôi môi xám xịt của
Bu. Anh mặc áo lụa quần
sa ten trắng, đi hài
cườm, thoa son phấn và
đeo đồ trang sức. Một
tháng sau, Bu đă có vô
số người ái mộ. Những kẻ
trước kia ḍm Bu chỉ
bằng nửa con mắt bây giờ
lại kính cẩn lễ bái đón
nhận từng mệnh lệnh của
anh. Người ta đến xin
bùa phép của anh để mua
may bán đắt, để được
sanh con trai, con gái,
đánh đề, đánh bạc, đua
ngựa, đá gà v.v....
Bởi v́ chư Phật và Bồ
Tát thường ít khi chịu
khó ch́u ḷng những tham
vọng ấy của chúng sanh,
thánh thần th́ bận
thưởng thiện phạt ác, ma
quỷ th́ đ̣i ăn hối lộ. Duy
có anh Bu không đ̣i hỏi
ǵ cả, ngoài việc ước
mong được thiên hạ ch́u
chuộng, tâng bốc vuốt ve
ḷng tự ái của ḿnh. Ba
tháng trôi qua, những
cuộc lên đồng cầu đảo
bất kể đêm ngày đă khiến
Bu xuống sắc rơ rệt. Lớp
son phấn dày cộm không
che khuất đôi mắt dầy
quầng đen. Càng đông
người tín mộ, anh càng
phải lên đồng thật xuất
sắc.... Anh không c̣n đủ
th́ giờ để ăn uống ngủ
nghỉ.... Những lúc mệt
quá, anh cũng muốn nghỉ
ngơi "thăng đồng" để trở
lại đời sống b́nh thường
của anh... nhưng những
lúc ấy anh phải trở lại
chấp nhận cái bản thân
b́nh thường thấp kém của
anh Bu khuân vác mướn,
một điều mà anh muốn
chối bỏ, anh phải chịu
đựng những ánh mắt lạnh
nhạt khinh bỉ của người
chung quanh. Người ta sẽ
gọi anh bằng "thằng",
bằng "mầy". V́ thế, dù
mệt mỏi anh vẫn phải
đồng hóa ḿnh với Bà
Chúa Xứ.
Bạn thân mến:
Số
phần của anh chàng Bu
nầy sẽ ra sao? điều nầy
tùy thuộc vào anh. Nếu
Bu khám phá ra rằng
chính ḿnh là nạn nhân
của tṛ chơi lên đồng
ấy, rằng sau những lúc
trà nghiêng rượu
nhạt.... Anh cũng phải
trở về đối mặt với con
người thật của anh : một
anh Bu tầm thường, vô
danh tiểu tốt. Nếu anh
nhận thấy rằng anh đang
bày tṛ điên loạn và
trong cảnh giới cuồng
điên đó anh đă được sự
tung hô tán tụng của
những người điên
khác. Và nhất là những
danh vọng hăo huyền đó
cũng chẳng thú vị ǵ cho
lắm. Tại sao anh không
trở về với anh Bu khuân
vác thường ngày. Dù
không được sự nể v́ kính
trọng của bàng dân thiên
hạ, nhưng ít ra anh cũng
c̣n có cái thế giới tỉnh
táo chân thật của con
người tầm thường và b́nh
thường. Mặt khác nếu anh
không thể nào chấp nhận
con người chân thật của
ḿnh, th́ anh cứ tiếp
tục bám vào cái vỏ của
Bà Chúa Xứ bôi son trét
phấn, ḥ hét ban phúc
giáng họa cho được đông
người ái mộ. Tín đồ
càng đông th́ "Bà" càng
phải thiêng. Và nếu Bà
Chúa Xứ không c̣n hợp
thời trang nữa th́ anh
có thể đổi danh hiệu
thành bà Ngũ Hành, Cửu
Thiên Huyền Nữ, hay là
Cô.... Cậu nào đó. Nước
đời lắm nỗi, chúng ta
chỉ có thể đoán chắc một
điều là... giữa lớp danh
vọng hư huyễn phù hoa
đó, anh chàng Bu sẽ chết
lần chết ṃn. Thể xác
mệt mỏi tinh thần điên
đảo.... Nếu tṛ chơi cứ
tiếp tục th́ chung cuộc
anh sẽ vào nhà thương
dành cho bệnh tâm thần.
Bạn thân mến:
Câu chuyện trên đây tôi
đă đau xót viết cho
riêng ḿnh, nói với bạn
cũng có nghĩa là tôi độc
thoại một ḿnh. V́ tôi
không tin tưởng rằng có
một cuộc đối thoại thực
sự cảm thông khi chúng
ta mỗi người c̣n đang
ngóng về một hướng, măi
miết đuổi bắt những lư
tưởng tận đâu đâu....
Tôi chỉ muốn hỏi bạn đă
có lúc nào bạn thấy ḿnh
giống hệt anh Bu trên
đây không ? Riêng tôi,
tôi c̣n nhớ rất rơ ràng
thuở bé tôi rất là hồn
nhiên, không nhớ ḿnh là
trai hay gái, đẹp hay
xấu, giàu hay nghèo,
giỏi hay dở ǵ hết. Tôi
sống thoải mái và vô tư
như một chú gà con th́
bỗng nhiên, dần dần tôi
nghe người chung quanh
nhận xét rằng tôi không
đẹp bằng chị tôi, không
giàu bằng nhà hàng xóm,
không giỏi bằng bạn bè
chung quanh... và cũng
dần dần từ đó, tôi bắt
đầ�u cảm thấy thống khổ
kịch liệt khi thấy sao
mà ḿnh tầm thường quá
đỗi... Không có một sở
trường ǵ để tự "lăng xê"
ḿnh, làm nổi bật ḿnh
lên trước bàng dân thiên
hạ. Rất nhiều đêm tôi
niệm danh hiệu Đức Quán
Thế Âm Bồ Tát, cầu mong
sao cho ḿnh được đẹp,
được sang, được giỏi hơn
thiên hạ. Mặt khác tôi
cố gắng thức khuya dậy
sớm bỏ ngủ quên ăn để
học cho bằng bạn bè,
những người hơn tôi cả
tài lẫn sắc... để ít ra
ḿnh cũng chứng tỏ được
cái khả năng của ḿnh,
rằng ḿnh không phải là
con số 0.
Bạn ạ:
Đó
chỉ là một thí dụ, một
phần rất nhỏ trong cuộc
đời đa thù phức tạp của
chúng ta. Điều khổ tâm
nhất của chúng ta hằng
ngày không phải là
chuyện sanh, già, bệnh,
chết, v́ đó là một lư
đương nhiên, không ai
tránh khỏi, chúng ta
thường khốn khổ, bứt rứt
v́ cái bản ngă của ḿnh,
sao mà ḿnh nhỏ nhoi tầm
thường quá, không có tí
ti nào khả ái, khả kính
dưới mắt ta và người
chung quanh hết. Những
lúc đố�i mặt với chính
ḿnh, ta phải cay đắng
mà nhận chân rằng ta chỉ
là một nhân vật quá mức
tầm thường, một con số 0
to tướng. Thế là anh
chàng Bu trong ta bắt
đầu tham gia vào tṛ "lên
đồng". Từ con số 0 tùy
theo cơ hội, hoàn cảnh
và nhu cầu của người ái
mộ chung quanh mà chúng
ta sẽ thành một cái ǵ
đó.... Mỗi người đội một
danh hiệu khác nhau
nhưng cùng giống nhau ở
một điểm là cố chối bỏ
con người tầm thường
chân thật của ḿnh để
sống dưới lớp áo của
những nhân vật rất mực
phù hoa và giả dối....
Và bạn ơi: Một điều kỳ
thú là chỗ chúng ta lẩn
trốn sợ hăi, lại chính
là chỗ mà các thiền sư
đại ngộ. Lục Tổ há chẳng
xác định một cách hùng
hồn rằng: "Bản lai vô
nhất vật" đó sao? Dưới
bất cứ lớp áo nào và
nhăn hiệu nào, bạn và
tôi điều phải công nhận
rằng, trong những giây
phút chiếu soi nh́n lại
ḿnh, ta thấy ḿnh quả
là "Vô nhất vật" nghĩa
là "Ta không là ǵ cả,
ta không phải là Bà Chúa
Xứ, bà Ngũ Hành, Cô Cậu
... ǵ hết, không là ǵ
hết..." nhưng ta vẫn
thấy nghe hiểu biết rất
rơ ràng, cái khả năng "kiến
văn giác tri" ấy chúng
ta điều b́nh đẳng như
nhau. Đây chính là Lục
Tổ nói: "Đâu ngờ tánh
ḿnh bản lai thanh tịnh,
đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự
đầ�y đủ cả v. v... đó
bạn". Khi anh chàng Bu
không c̣n lên đồng nữa,
không c̣n là ông kia bà
nọ th́ không phải là anh
ta chết, anh ta chỉ mất
- mất hết những cái ǵ
giả dối không phải là
ḿnh thôi. Nếu bạn thấy
rằng "bà đồng" của ḿnh
hăy c̣n thiêng lắm, và
thà rằng em đội lốt,
mang mặt nạ, ch́u theo
thị hiếu của bàng dân
thiên hạ, để được thờ
phụng tung hô... và được
vô vàn quyền lợi phụ
tùng khác, th́ bạn cứ
tiếp tục. Không có ai,
sẽ không có ai dám lên
án, chỉ trích hay cười
cợt bạn đâu.... V́ lên
án Bà Đồng cũng có nghĩa
là lên án luôn đám quần
chúng đang ái mộ, và ai
mà dại ǵ đứng ra chọc
giận thiên hạ nhiều như
thế. Bạn có thể yên tâm
mà tiếp tục.... Nhưng...
nếu như có hôm nào, quá
mệt mỏi với cái tṛ chơi
xốc nổi ấy, mặt nh́n tận
mặt, soi lại ḷng ḿnh
giữa cảnh hoang tàn của
trà ôi, rượu nhạt, hoa
héo, hương phai, nh́n
thấy người chung quanh
cũng chán chường mệt mỏi
không kém ḿnh... th́,
bạn hăy thử một lần, làm
sống lại con người năm
xưa của chính ḿnh, của
anh chàng Bu khuân vác
thử xem. Điều này đ̣i
hỏi nơi bạn rất nhiều
can đảm và hy sinh, v́
bạn sẽ mất hết uy danh,
quyền lợi, mất hết những
người ái mộ cung nghinh,
bạn sẽ bị xem thường,
khinh rẻ.... Bạn phải hy
sinh hết vàng son, phấn
sáp, danh lợi cùng uy
quyền để đi may thuê
cuốc mướn, phải đổ mồ
hôi nước mắt mới có
miếng ăn. Thế nhân
thường đi t́m sự thực,
nhưng sự thực lại quá ư
phũ phàng không giống
như ta hằng mơ tưởng...
nên... thà rằng, cứ nhắm
tít mắt lại để c̣n có
một thế giới hoa mộng,
huyền ảo, mê ly. Câu
chuyện này xin dừng lại
nơi đây, v́ tôi bất chợt
nhận ra rằng, dường như
tôi đang lên một cơn
đồng xuất sắc hơn, hợp
thời trang hơn... bà
đồng thường, đôi khi ta
ngỡ rằng ḿnh đă thức
dậy, đi ra khỏi cơn mơ,
nhưng sau đó thật lâu,
ta mới vỡ lẽ ra rằng
ḿnh chỉ thay đổi t́nh
tiết của giấc mơ mà thôi
và điều mà ta thấy ḿnh
đang lên đồng thật xuất
sắc là... khi có một
hành động nào đó của ta
được nhiều người vỗ tay
tán tụng, khi mà từ cái
Không, ta trở thành Có,
và cái Có này, ngày càng
bành trướng nẩy nở ra. Chính
những tràng pháo tay đă
báo hại chúng ta không
ít, nó xui ta cứ tiếp
tục... chiêm bao, để
được khen hoài khen măi,
bạn có thấy như vậy
không ? Hèn chi mà trong
kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát
khuyên ta cứ làm đi, làm
mọi việc để lợi ḿnh và
lợi người, nhưng phải
làm sao để cả "Tam luân"
đều không tịch, nghĩa là
không thấy có ḿnh, có
người và có pháp nữa,
chỉ đem thân huyễn làm
việc huyễn (dĩ huyễn
thân tác huyễn sự) mà
thôi. Các Ngài khôn quá
phải không ?
|
Bạn c̣n nhớ hay đă
quên: Hoà Thượng Thích Thiện Minh, Linh
hồn của Gia Đ́nh Phật Tử Việt Nam bị
chính quyền Cộng Sản Việt Nam giết ngày
17 tháng 10 năm 1978 tại Sài G̣n.
Nếu
là mây, tôi sẽ là một
vầng mây ấm. Nếu là
người, tôi sẽ chết cho
quê hương !!!
|
Tăn mạn:
Thầy Tuệ Sỹ
trong truyện ngắn bản Piano Sonata số
14, thày đă đưa ra một câu tự hỏi khá
độc đáo:"Nếu tất vạn vật đều Vô Thường,
th́ chắc ǵ cái Vô Thường lại không Vô
Thường? Mp3 file download"
Xuân
Hạ Thu Đông Rồi Lại Xuân-Điểm Phim by
Toại Khanh (Mp3 file, DiệuHiền: Tŕnh
Bày; Âm Thanh: DươngTiêu)Rất Hay Nên
Nghe

Những Chuyện Vi Tiếu mang tính triết lư
Đạo và Đời của DươngTiêu(Mp3 -Âm
Nhạc: DươngTiêu; DiệuHiền:
Tŕnh Bày)
Chương 1. Ngôi chùa Trên núi

Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng
Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai
thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam
hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa
sát vào vách núi. Chung quanh là những
điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự
ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được
bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị
trụ tŕ tiền nhiệm tại đó. Nên trong
ḷng ai cũng cung kính nể v́. Lư do là
chùa xây dựng rất đúng với thuật phong
thuỷ. Do vậy mà đời đời truyền nối ngọn
đèn Thiền gần mấy trăm năm mà chưa có
một vấn đề ǵ sơ hở xảy ra.
Sở dĩ được như vậy là
từ Hoà Thượng khai sơn cho đến những vị
Tăng Cang qua nhiều chặng đường của lịch
sử là những bậc tu hành đắc đạo và đạo
đức thật trác tuyệt, cho nên trên từ Vua
chúa, quan lại dưới đến thứ dân ai ai
cũng đều một ḷng ngưỡng mộ cung kính.
Cũng có nhiều người không thích lắm về
cách cư xử của triều đ́nh là dành cho
chùa quá nhiều đất đai và nhiều quyền
lợi khác nữa. Do vậy mà thỉnh thoảng vẫn
có những chuyện thị phi nho nhỏ.
Một hôm dân làng đi
lễ và ngày ấy cũng là ngày Hoàng Thân
Quốc Thích lên chùa lễ bái nguyện cầu.
Trong đám người đi lễ ấy có hai nho sinh
áo quần nhu nhă và họ là những người trí
thức đương thời, nên cách đối đáp của họ
có phần liên quan đến lịch sử.
Một người bảo:
-
Theo tiện sinh
th́ vua quan hà tất phải vào chùa lễ
Phật. Hoặc giả nên làm chùa tại cung nội
hay lập đền thờ riêng tại nhà có lẽ hay
hơn.
Người kia đáp:
-
Ngay cả
chúng ta cũng phải lên đây lễ. V́ chùa
đây thiêng; có Sư Cụ trụ tŕ đạo cao đức
trọng, là một bậc tu hành chân chánh nên
chúng ta mới đến lễ bái nguyện cầu. Nếu
chùa mà nhiều vị trụ tŕ chỉ lo
bái sám,
nhiều khi c̣n bói toán, coi quẻ, xem gị
nữa, th́ ta đến đó để làm ǵ chứ đừng
nói đến vua quan của triều đ́nh!
-
Đại
huynh nói phải và chí lư lắm. Sở dĩ
chúng ta đi chùa nầy v́ cảnh trí đẹp và
cũng có cảnh nam thanh nữ tú đi cùng,
nên tiện sinh rất hân hoan chờ đón được
những ngày như thế nầy. Nhưng tiện sinh
có điều không hiểu, kính nhờ đại huynh
phân giải dùm.
-
Nếu là
chữ của Thánh Hiền, th́ chắc là đệ hơn
huynh; nhưng có điều ǵ khác th́ cứ xin
tỏ bày tự sự.
-
Nguyên
là tiểu đệ nầy hay nh́n thấy vua chúa lễ
Phật mà chư tăng ni không theo phong tục
nước ḿnh lễ Vua chúa, mà đôi khi vua
chúa c̣n lạy cả chư tăng nữa. Ví dụ như
vị Sư Cụ trụ tŕ chùa Hưng Phước nầy là
một?
-
Việc ấy
đă có sự sắp xếp rơ ràng rồi, thiết nghĩ
đệ quên rồi chứ. Đây là nguyên nhân của
đầu đuôi câu chuyện:
Khi đức Phật thành
đạo dưới cây Bồ Đề tại Ấn Độ, th́ kể từ
lúc đó mọi người mới biết đến danh từ
Phật và v́ Phật cũng là người Hoàng Tộc,
do vậy các vua quan thuở bấy giờ đến
đảnh lễ Phật cũng là việc tự nhiên. Vả
lại ở Ấn Độ, họ chia con người trong xă
hội ra làm bốn giai cấp, mà giai cấp
đứng đầu vẫn là giai cấp giáo sĩ, giai
cấp thứ hai mới là giai cấp vua chúa,
giai cấp thứ ba là thương nhân, thứ tư
là giai cấp b́nh dân. Lại cũng c̣n có
thêm một giai cấp nữa, đó là giai cấp hạ
tiện; chỉ chuyên đi làm đầy tớ cho
người, trong khi đó Phật giáo được du
nhập vào Trung Quốc và Việt Nam chúng ta
đầu tiên chẳng thích hợp mấy v́ lẽ đạo
Phật chủ trương không bái lễ Quân Vương,
khác với đạo Nho của chúng ta, xem vua
chúa là cha mẹ của thần dân. Trên vua
chúa không có ai nữa cả. Ngoại trừ thiên
tử ở trên trời.
-
Sao mà
đại huynh rành quá! Và c̣n nữa, - Thế
th́ tại sao các vị sư lại không lạy vua
chúa ở Trung Hoa và nước ta?
-
Theo
quan điểm và lập luận của Hoàng Huyền
th́ Sa Môn tức các vị tăng sĩ phải lễ
kính Vua; ông ta xuất thân là con của
quan Nam Quận Công Hoàng Ôn, thông minh
có tài và rất tự hào. Tiếp nối chức tước
của cha, Hoàng Huyền cũng thâm hiểu về
Phật giáo và sau khi gặp gỡ tổ Huệ Viễn
tại Lô Sơn, lúc đầu rất kiêu ngạo; song
lúc gặp mặt Tổ đă chí tâm cung kính, sau
đó chỉ một câu đối đáp thôi là hoàn toàn
kính trọng Tổ. Tuy vậy, cái chất Nho
Giáo ăn sâu trong ḍng máu Trung Hoa;
nên năm 402 sau khi nắm quyền bính trong
tay, Hoàng Huyền ra lịnh sa thải Tăng
Ni, cho rằng Tăng Ni hư hỏng và làm phát
sinh nhiều tệ trạng cần phải thanh lọc,
chỉ giữ lại ba dạng Tăng Ni như sau: Một
là người có thể giảng giải về kinh điển,
xướng nói lên nghĩa lư; hai là người tu
hành nghiêm ngặt, giữ giới trọn đủ,
thường ở nơi chùa viện; ba là người tu
dưỡng trên núi; không làm các chuyện thế
gian. Để trả lời cho quan điểm và lập
luận của Hoàng Huyền, Ngài Huệ Viễn bảo
rằng Sa Môn không cần phải lễ kính Vua
như sau: “Những ǵ trong kinh Phật nói,
thường phân làm hai khoa; một là ở trong
thế tục mà hoằng pháp; hai là xuất gia
tu đạo. Ở trong thế tục th́ cái lễ với
bề trên, cái kính với tôn thân, cái
nghĩa của trung hiếu. Kinh văn đều có
nói đến. Ba giáo huấn ấy Thánh Điển dạy
rất rơ, sự giáo huấn ấy đồng với luật
chế của Vua, là điều phải làm, dường như
hoàn toàn khế hợp với nhau về phương
diện nầy hoàn toàn không có ǵ khác,
nghĩa là các Phật tử tại gia phải lễ
kính Vua, song c̣n xuất gia vốn như
người khách ngoài thế gian nầy hành tích
không dính bám vào bất cứ ǵ. Giáo Pháp
mà họ tuân theo là thấu rơ bao tai hoạ
luỵ phiền cũng do nơi có thân thể nên
chẳng cầu giữ thân nầy là nhằm để dứt
hoạ hoạn; biết rành đời đời phải sinh
sinh là do nơi thuận theo lẽ biến hoá
của đất trời. Thế nên không thuận theo
lẽ hoá ấy là cốt để cầu được tông yếu.
Cầu tông như thế không thể do thuận hoá
mà có được; người xuất gia không coi
trọng sự ban ân cho được sống hanh thông
khoái lạc; diệt các hoạ hoạn không do
nơi bám giữ thân nầy mà thành được; thế
nên người xuất gia chẳng v́ các lợi lạc
được sống ấm no đầy đủ. Lư nầy hoàn toàn
ngược lại với thế tục. Đạo và thế tục
khác nhau như thế ấy”. Tuy vậy, mặc dù
đế triều của Hoàng Huyền chỉ kéo dài đến
năm 404 là chấm dứt. V́ Lư Dụ khởi binh
công phạt và giết chết Hoàng Huyền. Năm
403, Hoàng Huyền đă chính thức ban chiếu,
chính thức chấp nhận cho Sa Môn không
cần lễ kính vương giả nữa, v́ biết rằng
những nhà Nho sau nầy đa phần vua chúa
nghe theo; nên Tổ Huệ Viễn đă cho soạn
luận “Sa Môn Bất Kính Vương Giả”. Và kể
từ đó về sau Trung Hoa cũng như Việt Nam
chúng ta, Sa Môn không cần lễ vua chúa
mà ngược lại đôi khi vua chúa phải lễ Sa
Môn. Ví dụ những ông vua đó là học tṛ,
đệ tử của các vị Tăng Cang, Hoà Thượng.
-
Quả
thật đại huynh là người tinh thông Hán
Sử, nhưng c̣n Huệ Viễn là ai thế?
-
Đó là
Ngài Huệ Viễn ở chùa Đông Lâm, núi Lư
Sơn bên Trung Quốc. Ngài họ Dă, người
làng Nhạn Môn, thoạt đầu sư học Nho, năm
21 tuổi xuất gia, thờ Ngài Đạo An làm
thầy. Sư thông hiểu giáo lư sâu sắc của
Đại Thừa. Bấy giờ ở Tương Dương xảy ra
giặc giă loạn lạc, Đạo An phải phân tán
học tṛ. Sư từ biệt Thầy về Kinh Châu
qua La Phù, Tầm Dương thấy đỉnh Lư Sơn,
cảnh trí thanh tịnh. Sư bèn trụ tŕ ở mé
bắc ngọn núi nầy. Sư đă cùng với Tăng
Tục 123 người lập thành Bạch Liên Xă,
chuyên tu Tịnh Nghiệp, trước tượng Phật
Vô Lượng Thọ. Sư soạn cuốn Pháp Tín Luận,
để xướng thuyết Niết Bàn thường trụ, nêu
ra luận điểm Sa Môn không cần phải kính
trọng hạng vương giả. Sư ở núi Lư Sơn
hơn 30 năm, không hề ra khỏi núi, chỉ
tiễn khách tới núi Hổ Khê th́ thôi. Sư
viên tịch vào tháng 8 năm Nghĩa Hy 12
đời nhà Tấn, thọ 83 tuổi.
-
Xứng
mặt là một đại huynh thuộc hàng Nho Gia
của Việt Nam chúng ta đấy chứ!
Như vậy ở đầu thế kỷ thứ 5 sau tây lịch,
năm 403 cho đến nay, các vị sư đều như
thế. C̣n riêng Việt Nam chúng ta th́ sao
đại huynh?
-
Như đệ
biết đấy, thời ấy Việt Nam chúng
ta vẫn c̣n bị nhà Hán, rồi nhà Tấn, rồi
nhà Đường cai trị. Tất cả văn học chữ
nghĩa, lễ nghi ǵ ǵ đi nữa, đều phải
rập khuôn theo Trung Hoa. Do vậy, Trung
Hoa sao th́ Việt Nam vậy. Thời sau đó,
đầu thế kỷ thứ 6, ông Lư Nam Đế khởi
nghĩa chống Trung Hoa và chính ông cũng
là người đă ở chùa cho nên việc không
lạy Vua, ông ta chấp nhận được. Rồi đến
đời Đinh, Lê, Lư, Trần v.v….những ông
Vua Việt Nam của chúng ta cũng xuất thân
từ cửa chùa như Lư Công Uẩn, tức là Lư
Thái Tổ đấy, sáng nghiệp ra triều Lư
(1010 đến 1222) và đă ăn cơm chùa ṃn cả
răng; không lẽ ông Vua nầy bắt Thầy ḿnh
là Vạn Hạnh Thiền Sư và Lư Khánh Vân lạy
ḿnh sao?. Điều ấy chắc hẳn không có. V́
lẽ nội cái đạo Nho cũng đă sai rồi, làm
sao nói đến đạo Phật được. Đó là chưa kể
những ông Vua cuối đời nhà Lư như Lư Huệ
Tông đă bỏ ngôi đi tu, thành đạo hiệu là
Huệ Quang. Và đă nhường ngôi cho con là
Lư Chiêu Hoàng, trị v́ thiên hạ. Sang
đến nhà Trần, ông Vua Trần Thái Tông đă
chán mùi tục luỵ, cung cấm và vị quân sư
Trần Thủ Độ nên nhà Vua mới nói rằng:
“Trẫm xem ngai vàng như đôi dép bỏ”.
Điều ấy chắc hẳn chẳng phải v́ giận hờn
mà v́ lẽ thấy đời là ảo mộng, cho nên
mới vào núi Yên Tử để xuất gia theo
Phật, nhưng Quốc Sư Phù Vân thửơ ấy đâu
có chấp nhận. Vả lại Trần Thủ Độ đâu có
để cho Vua yên. Thượng Hoàng không tu
được th́ cháu nội của Thượng Hoàng đi
xuất gia đó là Vua Trần Nhân Tông. Tức
là Điều Ngự Giác Hoàng đấy. Ngài đă
nhường ngôi cho con là Anh Tông để đi
xuất gia. Và vẫn c̣n làm lợi cho Tổ Quốc
là đem Huyền Trân Công Chúa gả cho Chế
Mân và Chế Mân đă dâng hai châu: Châu Ô
và Châu Rí đó. Nếu không có Huyền Trân
Công Chúa đời Trần, th́ nước Việt Nam
đâu có Huế và Quảng Nam của chúng ta
ngày nay, để rồi mai nầy các Vua triều
Lư, nhà Mạc, nhà Hồ, nhà Hậu Lê, có cơ
hội vùng vẫy cho đến tận mũi Cà Mau đến
ngày nay. Chưa hết khi Nguyễn Ánh Gia
Long thua Nguyễn Huệ Quang Trung phải
chạy sang Xiêm La tức Thái Lan ngày nay
cầu viện. Nếu không nhờ chư Tăng và Vua
Chúa Thái Lan cho ẩn náu vào cuối thế kỷ
thứ 18, th́ làm sao trở về khôi phục lại
quê hương, mà lên ngôi năm 1802 để dựng
nghiệp đế. V́ vậy cho nên sau khi lên
ngôi, Vua Gia Long Hoàng Đế đă sắc phong
dựng chùa Phổ Phước, chùa Khánh Vân,
Chùa Cảnh Phước ở Bangkok để cảm cái ân,
cái nghĩa cứu giá của Vua Chúa cũng như
quân thần trong khi sống loạn ly mà vẫn
c̣n cái hồn gửi về nơi cố quốc.
-
C̣n Sắc
Tứ Hưng Phước Tự là sao đại huynh nhỉ?
-
Cái
tiểu sinh nầy, ta là Nho sinh, chứ đâu
phải tiểu tăng mà cái ǵ cũng hỏi vậy
ḱa, làm như Ta là Tiểu Hoà Thượng không
bằng. Nhưng thôi nể lời đệ ta trả lời
luôn đây. Nhưng nhớ rằng lần sau không
được hỏi thêm ǵ nữa đấy. Chúng ta phải
lên ngoạn cảnh chùa và lễ Phật nữa chứ!
Chữ Sắc có nghĩa là lệnh. Chữ Tứ có
nghĩa là ân phước. Có nghĩa là có lệnh
ban ân phước cho chùa nầy. Nhưng ban cho
cái ǵ – Đó là chức Tăng Cang hay Hoà
Thượng của các vị Tổ tại đây. V́ vua nể
đạo cao đức trọng của chư vị, mà sắc
phong như thế, đệ nên nhớ rằng thời quân
chủ chỉ có vua là trên, không c̣n ai
trên Vua nữa hết. C̣n tên chùa Hưng
Phước có lẽ do Hoà Thượng Khai Sơn đặt
cho. C̣n chùa nầy như đệ biết đấy đă tồn
tại nơi nầy qua mấy trăm năm rồi đó.
Thôi chúng ta hăy cùng vào chùa đi.
Chùa có năm gian, ở giữa là gian thờ
Phật Tổ, A Nan, Ca Diếp đứng hầu hai
bên. Phía bên trên cùng thờ tam thế
Phật, gồm A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc, và
tầng dưới thờ Hoa Nghiêm Tam Thánh Thích
Ca Văn Thù và Phổ Hiền. Gian bên mặt từ
ngoài nh́n vào thờ Quan Âm Thiên Thủ
Thiên Nhăn, và kế bên thờ Hộ Pháp Vi Đà.
Gian bên trái đối diện thờ Thế Chí, gian
kế tiếp thờ Địa Tạng. Chung quanh tường
thờ các vị Bồ Tát và các vị A La Hán.
Phía sau thờ Tổ và chư
vị Thánh Tăng. Phía trước cửa chánh điện
thờ Tiêu Diện Đại Sĩ và Quan Thánh Đế
Quân.
-
Cả chừng đó
Phật và Bồ Tát, đệ muốn cầu ǵ th́ cứ
cầu, muốn xin ǵ cứ xin.
-
Nhưng ai nấy
cũng đều trầm ngâm cả làm sao biết ai
gật đầu chấp nhận mà xin?
-
Th́ đệ cứ khấn
đi, thế nào cũng có sự linh hiển nếu đệ
nhất tâm. Nhưng đệ muốn xin ǵ?
-
Làm sao
mà đại huynh hỏi điều thầm kín ấy được.
Chỉ có Phật Bồ Tát mới biết được ḷng
của Tiểu Đệ nầy thôi
-
Chẳng
có ǵ bí mật cả. Thôi đệ hăy khấn đi
-
Nam mô
Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô
Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ
Tát, Nam mô Tồi Tà Phụ Chánh Quan Thế Âm
Bồ Tát.
-
Cái ǵ
mà nhiều Bồ Tát thế! Chẳng thấy khấn nội
dung ǵ cả?
-
Từ từ
đă đại huynh. Nhưng điều nầy bí mật
-
Đoạn
khấn thầm Nam mô ….cho con…., như
vậy …. Kính mong Ngài…Nếu thành tựu….con
sẽ không bao giờ quên.
-
Nghe
chẳng rơ ǵ hết
-
Thôi
th́ cứ cho là bí mật đi. Nhưng đại huynh
muốn hiểu làm ǵ. Đây là chuyện riêng
của tiểu đệ mà. Thế đại huynh có cầu
nguyện ǵ chưa?
-
Sao đại
huynh thấy mắc cỡ quá. Người đi lễ quá
chừng mà tự nhiên ḿnh là nho sinh cứ
vái lạy như thế này xem ra các ả tín nữ
phía sau họ cười cho.
-
Nếu thế
th́ đừng đi chùa vẫn hơn.
-
Nhưng
chùa là chỗ Thiện của làng mà, tại sao
mà không đi?
-
Thôi
chúng ta ra bên ngoài để xem phong cảnh
một tư đă
-
Người
xưa thật có mắt. V́ lẽ ǵ chùa được gọi
là “Tự”? V́ sao có chữ nầy đệ có biết
không?
-
Đến đây
th́ đệ cũng bí lối. Kính nhờ đại huynh
đă thương th́ thương cho trót xin giải
nghĩa dùm
-
Thôi
được nghe đây! Ngày xưa Vua Trung Hoa
tiếp các vị sứ thần và các nước chư hầu
ở một nơi gọi là “Tự”. Sau nầy cơ ngơi
đồ sộ, mới tiếp nơi những dinh cơ khác,
chứ ngày xưa tiếp ở chỗ nhỏ thôi, chữ Tự
nầy viết gồm hai bộ. Đó là bộ Thổ và bộ
Thốn. Bộ Thổ là tượng trưng cho đất, mà
đất th́ trong nhà Phật cho là vô thường,
v́ cái ǵ có h́nh tướng đều hư vọng cả.
Ngay cả thân tứ đại nầy của chúng ta,
cũng được cấu tạo bằng bốn chất lớn ấy,
theo như lời Phật dạy; đó là: Đất, Nước,
Gió và Lửa. C̣n một bộ nữa gọi là bộ
Thốn mới thành chữ Tự được. Bộ thốn
ngoài nghĩa là một tất gồm 10 phân, hoặc
sự nhỏ bé; nhưng cũng c̣n một nghĩa nữa
là tất bóng quang âm khá tiếc. Cả hai
chữ nầy diễn tả sự vô thường hết; mà
ngôi Vua ai chẳng muốn bền vững lâu dài;
Nếu dùng măi chữ Tự th́ không lâu phải
thay đổi triều đại. Do đó từ đời Nhà Hán
trở đi ở bên Trung Hoa, chữ Tự chỉ để
cho chùa dùng và c̣n thêm vào bên sau
chữ Miếu nữa, để trở thành một danh từ
mà nơi đó chỉ thờ Phật chứ không phải
của Vua.
-
C̣n
Việt Nam th́ sao?
-
Các đời
Vua hậu Lê của chúng ta cũng tiếp các sứ
thần ngoại quốc tại chùa. V́ lẽ chư Tăng
là những người hay chữ, có thể giúp cho
Vua Chúa và các quan, bút đàm bằng chữ
Hán dễ dàng hơn. Do vậy mà tiếp ở chùa.
Nhưng chùa ở đây là chùa Quán Sứ. Chữ
Quán Sứ nghĩa là nơi các sứ thần ở lại.
Chữ quán được viết chung hai bộ là bộ
quan và chữ xá. Như vậy đúng ư của các
Vua hơn; nên chữ Quán dùng từ ấy đến
nay. Sau nầy khi kinh đô triều Nguyễn
dời vào Thuận Hoá, rồi th́ chùa Quán Sứ
tại Hà Nội do chư Tăng ở, chứ Sứ của các
nước khác, không c̣n đến để trú tại đó,
để được Vua tiếp nữa.
-
Quả
thật Việt Nam cũng hay đấy chứ
đại huynh nhỉ!
-
Coi
chừng cái đuôi của Nho sĩ bị loài ra, và
người đời xem thấy chướng lắm đấy! Làm
sao cho bằng Phật giáo thuở bấy giờ. Đệ
thấy không! Chùa nào cũng lầu ngang dăy
dọc, điện trước, đền sau c̣n hơn cung
Vua nữa. C̣n Vua chúa ǵ mà cho phải đạo
chứ. Có ông như Vua Thành Thái, c̣n phải
vượt thành vào chùa để hỏi ư Hoà Thượng
Hải Thiệu nữa đấy. Tuy rằng các vua ấy
đều học Nho Học để tiến thân, giữ nghiệp
đế cũng như chăn dân trị nước, chứ có ai
nhờ Phật học mà thành đâu?.
-
Sao mà
đệ ganh tỵ với những bậc xuất thế làm
ǵ. Họ suốt đời chỉ tu theo hai chữ
“không tướng” trong kinh Kim Cang mà
thôi. Có ǵ đâu mà phải tiếng to tiếng
nhỏ. Vả lại từ xưa đến nay trong lịch sử
nước nhà, cũng như của Trung Hoa, Nhật
Bản, Đại Hàn và Ấn Độ, đă có rất nhiều
ông Vua bỏ ngai vàng điện ngọc để đi tu,
chứ chưa thấy một ông Vua nào từ nhà tu,
bỏ sự tu hành để đi làm Vua cả.
-
Nếu đại
huynh nói vậy th́ Chu Nguyên Chương
triều nhà Minh bên Trung Hoa và Vua Lư
Công Uẩn của Việt Nam ta, không
phải là những ông Vua xuất thân từ cửa
chùa sao?
-
Đúng là
vậy! Nhưng trường hợp của Vua Lư Công
Uẩn là v́ triều đ́nh Lê Long Đĩnh quá
tồi bại. Nào hoang dâm vô đạo, nào chẻ
mía trên đầu sư. Đâu có ai nở ḷng nào,
nhất là thiền sư Vạn Hạnh “chấn tích trụ
vương kỳ”. Nghĩa là chống gậy giữ nghiệp
đế cho Vua. V́ ḷng dân, v́ thời thế, v́
vận nước v.v…Vả lại Lư Công Uẩn ở chùa
lúc ấy là một việc chẳng đặng đừng. Thế
ấy chẳng phải Công Uẩn tự chủ, là v́ con
rơi nơi cửa Phật, c̣n ông đâu phải là
người có ư xuất gia rồi bỏ việc tu hành
để đi làm Vua đâu. C̣n Chu Nguyên Chương
sáng Tổ của nhà Minh bên Trung Hoa vào
thế kỷ thứ 13 cũng thế. Những người b́nh
nam dẹp bắc xưa nay đâu phải lúc nào
cũng thắng, mà lúc nguy khốn đâu có ai
pḥ. Chỉ có cửa chùa là nơi che chở. Cho
nên người xưa nói rằng: Người ta phù
thạnh, chớ đâu có ai phù suy. Khi ân Vua
lộc nước tṛn đầy, th́ kẻ hầu người hạ,
nhưng lúc quốc sự nhiễu nhương, lúc ấy
mới biết ai trung ai nịnh. Huống nữa là
quê ta cũng như Trung Hoa hoặc Tây Tạng,
có những người đáng lănh đạo đất nước,
th́ việc ấy há có hại ǵ đâu. Triều Minh
bên Trung Hoa, cũng đă 300 năm lịch sử
từ thế kỷ thứ 13 đến đầu thế kỷ 17
(1640) chứ đâu có ít và triều Lư Việt
Nam của ta cũng vậy thôi. Tuy là ông Vua
xuất thân từ cửa
chùa, nhưng hết ḷng chăn dân trị nước,
xây chùa, dựng tháp khắp nơi, từ Hoa Lư
đến Thăng Long, đâu đâu cũng thể hiện
ḷng từ bi cao độ ấy. Vậy th́ đạo Phật
có hại ǵ cho nước nhà. C̣n đạo Nho của
chúng ta th́ sao, đệ hăy giở sử lại xem?
-
Quả
thật là đệ nầy chẳng địch nổi lại đại
huynh. Chắc là sau lần nầy đệ phải vào
chùa để tương chao kinh kệ, mới có thể
hiểu được những điều của đại huynh nói
và từ đó cái nh́n của đệ mới có thể khác
với ngày hôm nay chăng?
Thế rồi, cả hai đều
ra vườn chùa để ngoạn cảnh. Đây là hoa
Hải Đường; nọ là Bạch Liên; Hồng Liên
đang nở nhụy. Ở bên đồi kia là hoa Thung
và hoa Huyên. Đây là hoa Vạn Thọ, hoa
Thược Dược. Lại có cả hoa Lan và hoa
Điệp. Bấy giờ họ mới thảo luận cùng
nhau.
-
Hoa Vạn
Thọ và Hoa Sen đệ đă biết rồi, c̣n hoa
Thung và hoa Huyên, nghe nói hai hoa nầy
tượng trưng cho cha và mẹ; nhưng Nho
sinh như tụi nầy chưa hiểu rơ nghĩa lắm.
Kính xin đại huynh v́ tiểu đệ mà giải
bày.
-
Chữ
Thung viết bằng Hán Văn gồm hai chữ ghép
lại. Một bên là bộ Mộc, tức thuộc về cây
cối, một bên là chữ Xuân tức là mùa
xuân. Ư nói mùa Xuân th́ hoa nầy nở.
-
Hoa nào
chẳng nở vào mùa Xuân?
-
Đệ nói
như thế là sai rồi. Hoa Cúc nở vào mùa
Thu, hoa Mai nở vào mùa Đông.
-
Xin đại
huynh tiếp đi.
-
Chữ
Thung cũng có nghĩa là đánh đập nữa. Ư
nói người cha c̣n mạnh khoẻ hay dạy dỗ
con bằng roi cây. Do vậy mà chữ Thung
dùng để chỉ cho người cha là vậy. Ở Việt
Nam ḿnh, tại chùa Hưng Phước nầy
như đệ thấy đó có hai loại hoa Thung màu
trắng và màu đỏ, đệ thấy đẹp không?
-
Đẹp th́
có đẹp; nhưng sao nghe đến đánh đập đệ
ớn quá! C̣n hoa Huyên th́ sao?
-
Chữ
Huyên viết bên trên có bộ Thảo; tức
thuộc về cỏ, mà cỏ th́ mềm mại phải
không đệ? cỏ cũng nở hoa phải không đệ?
Bên dưới viết chữ Tuyên có nhiều nghĩa.
Nhưng ở đây phải hiểu là bao la to lớn.
V́ sao vậy? V́ ḷng của mẹ bao giờ cũng
bao la như biển cả. Cây nầy tuy là cỏ;
nhưng như đệ thấy đó, Hoa lá đều ăn được
cả. Trong kinh thi đệ không nhớ rằng,
“Uyên đắc Huyên thảo, ngôn thụ chi bối”
sao? Nghĩa là sao được cỏ Huyên, tức cây
nầy vậy. Cây mọc ở sau nhà phía bắc, tức
dùng để chỉ hoa nầy. Nhà phía bắc là chỗ
| | | | |