Chương 1. Ngôi chùa Trên núi
Chương 2. T́nh Thầy Tṛ

Người mẹ rất đau khổ đặt đứa con mới sinh được mấy ngày trước cửa chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự rồi th́ thầm khấn:
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm! Con là người mẹ bạc phước vô duyên, sinh con mà không dám nuôi. V́ lỗi lầm tự tạo và v́ miệng đời chanh chua, dèm pha muôn nẻo. Nên con đă cắt núm ruột của con để lại nơi cửa Thiền, mong Ngài từ bi độ tŕ cho đứa trẻ. Xin ngài đoái thương và cứu vớt cho một người mẹ đă lỗi lầm.
Sương mù vẫn c̣n dày đặc, giăng tận xuống cổng tam quan. Sư Cụ Trụ Tŕ khoan thai từng bước một xuống thềm chánh điện và tiến ra phía trước cổng chùa để mở cửa. Bỗng nhiên, Sư Cụ nghe tiếng khóc của trẻ sơ sinh và nh́n chiếc nôi, trong ấy có một tờ giấy ghi mấy chữ ngoạch ngoạc như thế nầy:
“Kính lạy Ngài hoan hỷ nuôi dùm đứa bé. V́ lư do ǵ th́ xin Ngài đừng tra hỏi, xin hẹn lại một ngày sau. Nếu nhân duyên hội ngộ xin bày tỏ hết các ngọn ngành - người mẹ đau khổ kư tên”
Cửa chùa Hưng Phước bây giờ ngoài hồi chuông triêu mộ sớm chiều của các Tịnh Hạnh Nhơn hô canh ngày hai buổi, c̣n thêm tiếng khóc của trẻ thơ nữa. Đứa bé ấy thay v́ nghe lời mẹ ru với vơng đưa kẻo kẹt hằng ngày th́ được Hoà Thượng và các Tịnh Hạnh Nhơn cho bé nghe lời kinh tiếng kệ cùng mơ sớm chuông mai như thế nầy.
“Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
Nguyện tiếng chuông nầy vượt ngoài pháp giới
Núi thiết vi u ám thảy đều nghe
Nghe chuông ḷng thanh tịnh chứng viên thông
Hết thảy chúng sanh đạt thành Chánh Giác
Nghe chuông ngân ḷng nhẹ lâng
Trí huệ phát Bồ Đề Tâm
Ĺa địa ngục thoát hầm lửa
Nguyện thành Phật, độ chúng sanh
Phá Địa Ngục chân ngôn:
Án Dà Ra Đế Da Ta Bà Ha
Chuông gióng lên đợt đầu
Niệm kệ báu nâng cao
Trên thông vào thiên đường
Dưới thấu trường địa ngục
Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương
Giáo chủ cơi U minh,
Cứu bạt khổ chúng sinh
Đại nguyện Ngài rộng thênh
Chuông gióng lên đợt hai
Niệm kệ báu nâng cao
Trên thông vào thiên đường
Dưới thấu trường địa ngục
Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương
Giáo chủ cơi U minh,
Cứu bạt khổ chúng sinh
Đại nguyện Ngài rộng thênh
Chuông gióng lên đợt ba
Niệm kệ báu nâng cao
Trên thông vào thiên đường
Dưới thấu trường địa ngục
Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương
Giáo chủ cơi U minh,
Cứu bạt khổ chúng sinh
Đại nguyện Ngài viên thành.
Ngưỡng chúc Phật pháp măi rạng ngời
Bánh xe pháp đời đời chuyển vận
Gió ḥa, mưa thuận thấm nhuần
Dân an, nước thịnh, khắp cùng nơi nơi. O
Trong ba cơi, bốn loài
Mỗi mỗi thoát luân hồi
Trong mười loại hữu t́nh
Ắt ĺa khổ ngục h́nh. O
Năm tháng thuận gió mưa
Khỏi gặp năm đói khát
Đông nam sống ḥa lạc
Thời Nghiêu Thuấn thái b́nh. O
Thôi chấm dứt chiến tranh.
Tử nạn những thương vong
Đều siêu sanh tịnh độ
Đất lành, người hoàn hảo. O
Loài chim bay, thú chạy
Không bị lưới, bẩy giăng
Kẻ lưu lăng cô thân
Sớm quay về hương quán O
Vô biên thế giới
Đất rộng trời cao
Tín thí gần xa
Phước thọ dồi dào O
Thiền môn hưng thịnh
Phật pháp phát huy
Thổ địa long thần
Hộ Tăng an tịnh O
Cha mẹ cùng thầy học
C̣n, mất đều lợi lạc
Tổ tiên bao đời trước
Cùng nhau được siêu thoát. O
Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Giá Na O
Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Xá Na O
Nam mô Đức Phật Thích Ca Mâu Ni O
Nam mô Đức Phật Di Lặc Từ Tôn O
Nam mô Đức Phật A Di Đà cơi Cực Lạc O
Nam mô mười phương ba đời các Đức Phật O
Nam mô Đức Bồ tát Đại Trí Văn Thù O
Nam mô ĐứcBồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền O
Nam Mô Đức Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm O
Nam mô Đức Bồ tát Đại thế Chí. O
Nam mô Đức Bồ tát Già Lam Thánh Chúng O
Mười Phương ba đời bảy đức Như Lai
Cùng tám mươi tám Phật trên liên đài
Chúng sanh sáu đường mong thoát khổ
Chín cơi mười loài khỏi trần ai O
Chuông ngân dồn dập lại gióng lên
Chùa viện chúng Tăng hăy nhớ ghi
Tu tập bốn thời tuân qui chế
Xuống giường cất bước giữ oai nghi. O
Tụng: Đại Bi, Kinh Di Đà, Bát Nhă, Niệm Phật, Hồi hướng, Phục Nguyện, Tự quy y và cuối cùng là đọc bài Kệ dứt chuông:
Trăm tám tiếng chuông hướng Phật tiền O
Trên thông dưới thấu thảy an nhiên O
Sáu đường chúng sanh mong thoát khổ O
Chín cơi mười loài hết lụy phiền. O
Nam mô siêu lạc độ Bồ Tát Ma Ha Tát O-OO-O.
Sư Cụ Hoà Thượng Từ Tâm, Phương Trượng Chùa Sắc Tứ Hưng Phước là một bậc thâm nho kỳ cựu, Trước khi đi xuất gia, Ngài đă là một vị quan văn tại chốn triều đ́nh, xuất thân từ một gia đ́nh vọng tộc. Tuy không giàu có, do của bất chánh nhưng ruộng đất cha mẹ để lại cũng như bằng cấp và chỗ đứng trong xă hội, đă làm cho vị quan văn ấy không hổ phận khi xuất hiện trước bàng dân thiên hạ hay ở chốn quan trường đối với các quan trên dưới. Tuy nhiên đứng trên bàng dân để xử kiện hay giao dịch với các nước lân bang và những lần đi kinh lư, vị quan ấy thấy dẫy đầy những kịch tính mà ḿnh phải đóng như trong phim trường, cốt cho xong một bổn phận là “cha mẹ của dân”. Cứ mỗi lần xét xử một vụ kiện như thế, vị quan nầy chẳng yên tâm chút nào, dẫu cho luật pháp đương thời của triều đ́nh có nghiêm minh bao nhiêu đi chăng nữa, th́ đa phần kẻ thắng vẫn là kẻ có tiền, và có quyền do vậy mà Ngài đă chán ngấy cảnh nầy nên đă giũ áo từ quan, t́m vào chốn am thiền để t́m lại con người chân thật của ḿnh, đôi khi Ngài tự nhủ. Không biết trong đời này có ai nói thật những thói hư tật xấu của ḿnh cho người khác biết để tránh không? Hay cũng chỉ là tốt khoe xấu che. Có ai sợ sám hối ăn năn những lỗi lầm của ḿnh khi vấp phải hay cũng chỉ là vá víu tạm thời.
Chỉ chừng đó câu hỏi, và chỉ chừng đó suy tư cũng đă làm cho vị quan văn nầy tỉnh ngộ và chỉ có chốn thiền môn, mới có thể giải quyết được những thắc mắc nầy. Nhất là giáo lư thậm thâm vi diệu của Hoa Nghiêm, của Bát Nhă, của Tánh Không, của Duy Thức, giúp Ngài tỉnh giấc mộng Nam Kha, mà chốn quan trường cũng giống như:
“Xá chi một quả chuối xanh
Ba bảy người dành cho mũ dính tay”
Ngài đọc tiểu sử của Thiền Sư Huyền Quang đời Trần tức Lư Đạo Tái, vị nầy cũng xuất thân từ chốn quan trường, đă đổ bằng tiến sĩ, ra làm quan một thời gian nhưng lại về hưu non và quyết chí tu hành cho đến ngày đắc đạo. Hai câu thơ mà Huyền Quang để lại vào thời ấy nay vẫn c̣n có ư nghĩa như thường. Đó là:
“Khó khăn th́ chẳng ai nh́n
Đến khi đổ trạng tám ngh́n nhân duyên”
Thói đời vốn đen bạc, ḷng người thay trắng đổi đen, nhưng khi vào chùa cũng chưa phải là hết nợ. Ví như hôm nay đó, tự dưng thằng bé kháu khỉnh lại bị bỏ trước chùa. Ta lại phải cưu mang. Có lẽ họ nghĩ rằng: “Cửa chùa là cửa từ bi và vị thầy cưu mang đứa trẻ chắc cũng là chuyện b́nh thường như của Vua Lư Công Uẩn năm xưa chăng?”
Con ai đem bỏ chùa nầy
A Di Đà Phật con thầy thầy nuôi
Chưa hẳn là vậy. Đă là người xuất gia th́ làm ǵ có con riêng, trừ phi vị ấy lập gia đ́nh, có con cái rồi mới đi tu. C̣n đây ta vốn trinh nguyên từ chốn quan trường cho đến khi được sắc phong Hoà Thượng, biết đâu ta nuôi đứa bé nầy để ngày sau nó sẽ giống như Công Uẩn là:
“Nửa đêm chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xă tắc xiêu”
Biết đâu nhưng trong dáng điệu đứa bé nầy sao ta thấy nó kháu khỉnh quá, chắc rằng nghiệp lực của nó, c̣n nặng nợ trần duyên lắm; chứ chưa hẳn đă là một đứa bé “xuất trần thượng sĩ” đâu.
Ḥa Thượng Từ Tâm nh́n đứa bé một cách chăm chú và nó cũng đáp lại Hoà Thượng bằng tiếng khóc o oe...và đôi khi lại càng khóc to hơn nữa, khiến cho các vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa phải lo đi khuấy cháo sữa cho nó. Quả thật chùa đă bận rộn, lại càng thêm bận rộn hơn nữa.
Ngày lại tháng qua đứa trẻ ấy lớn lên như thổi, được Sư Cụ Từ Tâm đặt cho Pháp Danh là Ngộ Đạo, lấy họ của ḿnh làm chỗ dựa cho bé, kể từ đó, chùa như rạng rỡ hơn, v́ có tiếng khóc của trẻ thơ. Có người hiểu chuyện giúp Sư Cụ việc nầy việc nọ, như thay tả khuấy sữa cho bé, hoặc ru cho bé ngủ, nhưng cũng thật là lạ. Bé chỉ thích nghe chuông, ít thích những lời ru ngọt ngào, v́ thế cho nên nhiều người nói rằng: “Bé đúng là có căn tu nên mới gặp được Hoà Thượng.”
Cũng có nhiều người không hiểu chuyện, buộc miệng bảo rằng: “thấy đứa bé giống Hoà Thượng như đúc”
- Thế ấy đừng có nói đùa, Ngài là người quan lại Mỹ nhân chỗ quyền quư c̣n không thích, thích ǵ những chuyện vụng trộm như thế nầy. Chẳng qua v́ mối từ tâm, đúng như đạo hiệu của Ngài cho nên Ngài chỉ muốn nuôi đứa bé nầy thôi.
Ai nói ǵ, Ngài cũng chẳng phân trần, mà cũng chẳng giải thích. Chỉ có điều lúc nào Ngài cũng hoan hỷ mĩm cười và bảo rằng như thị, như thị…như thế đó, như thế đó.
Cái tên Ngộ Đạo, hay Đạo Ngộ nghe cũng hay hay, v́ đọc theo kiểu nào cũng đều xuôi tai cả. V́ đạo mà gặp Ngài hay gặp được đạo qua Ngài cũng hay thôi. Cha mẹ chắc ǵ đặt được cái tên hay như thế.
- Quả thật người mẹ ấy khôn đấy chứ! một vị Tịnh Hạnh Nhân nói thế. Trong khi đó người khác chen vào:
- Khôn ǵ mà khôn. Niềm vui ai hưởng chứ sự cực nhọc th́ khiến cho những già nầy mang, mà c̣n làm liên luỵ, phiền đến Hoà Thượng nữa.
- Vậy th́ chữ từ bi nơi cửa Phật để ở đâu?
- Để ở đâu cũng được, nhưng cũng nhiều lúc cần phải đóng cửa từ bi lại, chứ như trường hợp nầy, th́ Sư Cụ quá từ bi.
- Vậy th́ phải giải quyết sao đây?
- Đă phát nguyện làm và tu theo hạnh Bồ Tát th́ chấp nhận thôi. Cái ǵ ḿnh bỏ chạy, trốn tránh việc ấy cứ theo hoài. Việc ǵ ḿnh sẵn sàng đối diện th́ ḿnh sẽ vượt qua.
- Già không thấy trong luận Bảo Vương Tam Muội nói sao
- Nói như thế nào?
- Oan trái không cần biện bạch, v́ c̣n biện bạch th́ nhân quả chưa xả.
- Nhưng thầy ḿnh đâu có mắc nợ ai đâu? Suốt đời từ khi làm quan cho đến khi tu hành cũng đều làm việc “thi ân chẳng cầu báo” Sao hôm nay chùa ḿnh lại phải cưu mang thêm thằng bé nầy nữa?
- Biết đâu là Lư Công Uẩn tái sinh, hay Chu Nguyên Chương nhập thế chăng?
- Việc ấy xin miễn bàn.
Lời qua tiếng lại đối đáp với nhau của hai vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa, khiến Sư Cụ nghe được và từ tốn bảo rằng:
- Phàm làm người chúng ta phải có lượng từ bi, ngay cả khi chúng ta, những người tu theo Bồ Tát Hạnh bị oan ức, bị xẻ thịt phanh thây c̣n không giận người, trách đời, huống ǵ đây mới chỉ là một thử thách nhỏ. Các vị nghĩ như thế, v́ họ đem bỏ con trước chùa. Nếu đem ba kư lô gram vàng ṛng và hột xoàn, kim cương bỏ đó, chắc quư vị không trách cứ. Nhưng chắc ǵ hột xoàn kim cương, đă là một điềm lành. Thôi hăy chấp nhận vậy. Vả lại “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”xưa nay việc ấy vẫn thường, chúng sanh gây ra bao nhiêu tội lỗi chẳng cần biết, chỉ khi nghiệp đến rồi mới sợ mới lo. C̣n Bồ Tát phải biết ngay từ lúc gây nhân th́ quả ấy đă nắm chắc trong tay rồi. Cũng ví như nếu ta nhặt được quả cam non đem dùng th́ chắc rằng đắng lắm chẳng ăn được; nhưng qua thời gian năm tháng quả cam ấy chín, ta hái để ăn. Lúc ấy ta thấy ngọt. Vậy vị ngọt nầy từ đâu đến. Nếu chẳng phải từ cái chua kia mà có, v́ thế mà Phật dạy rằng: “Phiền năo tức Bồ Đề là vậy” Sự giải thoát giác ngộ quyết không ngoài những phiền năo khổ đau trong đời nầy mà có được. Trong cái nhân đắng ấy đă hàm chứa chất ngọt rồi, chỉ v́ chúng ta không biết chuyển hoá khổ đau tục luỵ thành Niết Bàn An Lạc đấy thôi, chứ nếu chúng ta biết áp dụng, đúng tinh thần Bồ Tát Đạo, th́ làm sao chúng ta có thể t́m niềm vui riêng biêt, khi chúng sanh c̣n đau khổ nơi chốn hồng trần nầy. Vả lại đứa bé nầy biết đâu sẽ tốt về sau, mà cũng có thể sẽ xấu về sau. Như trong kinh Kim Cang Phật dạy rằng: “Tất cả các pháp đều không có tính nhất định. Cái đúng của ngày hôm qua, cũng có thể là cái sai của ngày hôm nay, và cái sai của ngày hôm nay, có thể vẫn là cái đúng của ngày mai, v́ tất cả pháp đều là Phật Pháp cả. Dầu cho pháp ấy là pháp của thế gian hay xuất thế gian. Biết đâu người mẹ đau khổ của đứa bé nầy đang hối hận mà cũng đang hạnh phúc. Hạnh Phúc v́ được nhà chùa nuôi nấng tử tế và được huấn luyện học hỏi hằng ngày nơi chốn thiền môn; nên người mẹ rất an ḷng. Có người mẹ nào mà chẳng thương con. Biết đâu bà ta mỗi ngày đang dơi mắt trông vào chùa để xem hành hoạt của con ḿnh v́ thế mà hạnh phúc. Nhưng cũng biết đâu người mẹ đau khổ ấy rất khổ tâm, v́ muốn chuộc lại con ḿnh, nhưng sợ miệng đời đen bạc dèm pha. Do vậy mà vẫn âm thầm chịu đựng khổ đau và biết đâu Bồ Tát Quan Thế Âm thử ḷng những kẻ tu hành như chúng ta có thật sự cứu khổ khi kẻ lâm nguy đến kêu cầu với ḿnh chăng. Vả thật có nhiều lư do để mà suy đoán; nhưng nghĩ suy làm ǵ cho mệt trí. Hăy xem đây là một niềm vui là hạnh phúc rồi. V́ ta đă làm an ḷng cho một người mẹ khổ đau như thế”
Mới đó mà đă tṛn ba tuổi, bé Ngộ Đạo lúc nào cũng quấn quít bên Sư Cụ như thầy tṛ, như cha con và cũng như ông cháu. Người ngoài nh́n vào một già một trẻ lúc nào cũng bên cạnh nhau ra điều tâm đắc lắm.
Một hôm Sư Cụ Từ Tâm bảo rằng:
- Ngày mai là mồng một, chiều nay chúng ta sám hối
- Sám hối là ǵ vậy ông?
- Sám hối là sám hối. Bây giờ con c̣n nhỏ chưa hiểu đâu. Lớn thêm một chút nữa ông sẽ giải thích cho.
Bé vâng lời lên chánh điện vào giờ lễ sám hối. Bây giờ ai trông thấy bé cũng muốn gần. Kẻ xoa đầu, người vuốt tóc, trên ba cái chỏm trái đào c̣n lại. Hiện lên trên đôi má ửng hồng, giống như một hoa sen đang kỳ nở hương thơm ngát. Có người th́ trêu cháu hỏi mẹ cha ở đâu. Người th́ kín đáo hơn cho bé trái đào, trái ổi để được bồng ẵm và nâng niu bé. Ai làm cách nào bé cũng thuận theo và v́ thế Hoà Thượng được khen là người mát tay nuôi dạy trẻ. Có người bảo:
- Từ nhỏ đến giờ Sư Cụ đâu có bao giờ chăm sóc tuổi thơ đâu mà Ngài tài t́nh quá nhỉ.
- Th́ chăm lo cho chốn quan trường cũng là một h́nh thức chăm sóc không phải sao? Ấy là người lớn. C̣n ở đây là trẻ thơ, khó dạy khó bảo lắm. Có người lại ṭ ṃ muốn biết mẹ cháu là ai, biết đâu trong những người đi lễ chùa vào những lễ sám hối hay những ngày lễ lớn trong năm lại chẳng có mẹ cháu. Hăy để ư xem hành động của một người mẹ thật và một người bàng quan th́ sẽ rơ.
- Đâu có ai dại ǵ mà nhận con lại trong lúc nầy. V́ Sư Cụ chăm sóc kỹ quá mà! Một người đàn bà nói thế.
- Đă là con th́ hùm dữ chẳng ăn thịt con. Sao người mẹ nào lại đành đoạn thế?
Một bà khác nói:
- Theo tôi cứ để yên như thế là xong, lớn lên biết đâu tiểu sẽ đi tu. V́ ngày xưa người ta vẫn thường ví:
“Con vua th́ lại làm vua
Con săi ở chùa phải quét lá đa”
- Nhưng sư phụ ḿnh đâu phải là người thường. Đó là bậc quan lại của triều đ́nh. Đă bỏ chốn quan trường vào cửa Phật xuất gia, th́ chắc rằng Ngài cũng phải cho tiểu nầy học đến nơi đến chốn chứ.
- Ừ tuỳ theo thằng bé nếu nó thông minh.
- Trông dáng nó ḱa vừa xinh vừa hồng hào, trông như quả đào chín mộng ấy!
- Ấy đừng khen con trẻ ở tuổi nầy
Sau lễ sám hối hôm đó, bé Ngộ Đạo được vào liêu pḥng của Hoà Thượng Phương Trượng và bé cất tiếng hỏi “Bạch sư ông, mẹ cha của con sao chẳng thấy đến chùa lễ Phật?
Câu hỏi của bé khiến sư ông suy nghĩ hồi lâu mới trả lời.
- Chắc là bận lắm!
- Nhưng con chưa bao giờ gặp
- À! chuyện nầy th́ dài ḍng lắm, làm sao con hiểu hết được đây. Nếu ông có nói cho con nghe bây giờ, th́ sau nầy chắc ǵ con c̣n nhớ. V́ con c̣n quá nhỏ, thôi để từ từ khi con lớn lên năm, bảy tuổi ông sẽ kể cho con nghe. Lúc ấy, con sẽ có được sự nhận định rơ ràng hơn. C̣n bây giờ th́ …
- …. con muốn nghe
- Nhưng ở tuổi này con nghe đâu có ích ǵ. Con hăy trở lại pḥng ḿnh đi ngủ sớm, ngày mai c̣n phải cùng ông ra vườn tưới cây kiểng và xem bướm hay hoa nở nữa.
Con nít khi bị dụ vào mục tiêu khác, nhất là mục tiêu nào chúng thích th́ chúng sẽ sớm quên ngay những ǵ chúng đang đ̣i hỏi. Dầu cho việc đ̣i hỏi ấy, có quan trọng đi nữa cũng sẽ dễ quên đi. Sáng hôm sau cả hai ông cháu đều ra vườn và họ thủ thỉ với nhau ra chiều tâm đắc lắm.
Đây là bụi hoa mai, đây là giàn hoa thiên lư, đây là hoa cẩm chướng, đây là hoa anh đào.
- Nhưng tại sao gọi là Hoa, thưa ông?
- Th́ tại nó là hoa. Nhưng sau nầy con lớn khôn lên, con học chữ Hán để biết th́ ư nghĩa kỳ diệu lắm! Chữ Hán là một loại chữ tượng h́nh, từ đời ông Bành Tổ bên Tàu đă hơn năm ngàn năm nay, họ dùng chữ tượng h́nh để viết và gọi tên con người, con vật, cây cỏ v.v..Ví dụ như chữ Hoa viết bên trên là bộ Thảo có nghĩa là loài cây cỏ. Bên dưới là chữ Hoá có nghĩa là sự biến đổi của đất trời vạn vật. Nếu chiết tự thêm ra nữa th́ một bên có bộ nhân đứng tức là người, c̣n bên kia là bộ Trĩ ví như cuộc đời nầy yên lặng. Mọi việc đều vô sự mà có đầy đủ việc ăn uống an lành. Như thế cả ba bộ ghép lại thành chữ Hoa. Hoa là kết tinh của cuộc đời, của con người và của sự vật. Hoa mang hương sắc đến cho đời, điểm tô cho đời thêm lộng lẫy nên thơ và chính hoa cũng làm cho đời khổ lụy. …
- Tại sao vậy ông?
- Th́ cũng như trường hợp của mẹ con đó. Người ta khi nghĩ đến một người đàn bà c̣n trẻ mà bạc phước th́ người ta nói uổng một đời hoa,
- Vậy mẹ con đă chết hay c̣n sống?
- Chắc rằng …..
- Mẹ con đă chết hả ông?
- Điều đó không chắc lắm, v́ con là đứa con rơi, mẹ con đem bỏ trước cửa chùa vào một ngày mùa đông mưa gió, mới đó mà cũng bốn, năm năm rồi. Quả thật thời gian trôi nhanh thật, đâu có ai ngờ….
- Ngờ ǵ thưa ông?