WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE !
Vien Hoa Dao thich tue sy.jpg

Hit Counter Visistors so far !

MỖI TUẦN MỘT MẪU CHUYỆN ĐẠO:

Giải Nhân Quyền Rafto 2006 Ḥa Thượng Thích Quăng Độ Mp3 file

THE UNIFIED BUDDHIST CHURCH OF VIET NAM - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT- THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE

Cố Hoà thượng Ân Sư Thích Trí Thủ (Bị Chính quyền Cộng Sản Việt Nam Thủ Tiêu Đầu Độc vào đầu tháng 4/1984) và cố Hoà Thượng Thích Măn Giác

Xin Tưởng Niệm và ghi nhớ măi măi sự hy sinh VỊ QUỐC VONG THÂN của 2 cố thiếu tướng Phạm Văn Phú và Nguyện Khoa Nam - DươngTiêu

Password to download bai giang : alanbao or duongtieu

 

DownLoad Bài Giảng

H́nh Ảnh TLPP

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam

Trại Hè Phật Tử 2006

Sinh Hoạt Từ Thiện

Thơ/Văn/-Lịch sử Việt Nam

Truyện/Truyện Phật Giáo

Nhạc Phật Giáo

Tin Tức Giáo Hội

Liên Lạc và Thông Báo

Hướng Dẫn Nghe Pháp

H́nhẢnh GHPGVNTN

PhápÂm/PhỏngVấn

Lịch ThuyếtPháp Weekly

Home

Các Khóa Tu Học

T́m Kiếm(Search)

Tin Phật Giáo Thế Giới

Tin Việt Nam/Thế Giới

Nhịp Cầu Liên Kết

Thư Viện Phật Giáo

buddhismdesign.com

 

Thuong To aThich Tri Sieu Le Manh That

Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hăi

Cố Sư Bà Thích Nữ Diệu Không

 

   

WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE!

ĐÀN ÁP TÔN GIÁO LÀ HUỶ DIỆT SỨC SỐNG CỦA DÂN TỘC !

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED STATES OF AMERICA
VĂN PH̉NG II VIỆN HÓA ĐẠO - HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
VPLL: 311 E. MISSION ROAD, SAN GABRIEL CA 91776 * TEL 626 614-0566 * FAX 626 286-8437

TÔN CHỈ VÀ LỜi GIỚI THIỆU GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT:

VÔ TRỤ BẤT THỦ - SỨ MỆNH ĐỘ SINH

CỦA CHƯ ĐẠI BỒ TÁT

Sư tử hống thời phương thảo lục

Tượng vương hồi xứ lạc hoa hồng        

Hành tung của chư vị Bồ Tát, mang nhục thân thị hiện cơi Ta bà, hóa độ chúng sanh, bằng cái nh́n b́nh thường của con người không thể nào biết được.  Chư đại Bồ Tát vân du tự tại khắp mọi nơi, khi tâm lượng chúng sanh cảm th́ Bồ Tát ứng, khi chúng sanh niệm tưởng danh hiệu th́ Bồ Tát hiện tiền.  Tâm đại bi và bản hoài tế độ bao trùm khắp thế giới ba ngàn, ḷng đại bi vượt lên nhị biên đối đăi.  Hàng chúng sanh, tập thể loài người thành kính ngưỡng vọng, những đóa hồng liên xinh tươi đang rực cháy trong ḷ lửa đỏ, nhưng vẫn hiến dâng cho đời ngào ngạt hương thơm.  Ḥa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, tên Người khởi xướng phong trào đấu tranh bất bạo động, đ̣i tự do nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam, đang bị nhà cầm quyền lưu đày, tống giam biệt xứ, cắt đứt sự liên lạc giữa người với người, giữa Thầy với tṛ, giữa t́nh ruột thịt máu mủ, tông môn.  Cộng sản Việt Nam có thể trù dập xác thân Người tứ đại, ngũ uẩn tạo thành, nhưng không thể nào lay chuyển, xoi ṃn ư chí kiên định như kim cương và tâm thức sáng ngời như sao Bắc Đẩu của nhị vị Ḥa thượng.  Ư chí và tâm thức đó là bài kinh được tụng lên từ khung trời lửa đỏ đang hực cháy, làm hướng đi đích thực cho dân tộc Việt hôm nay, cho đạo pháp ngàn sau noi gương Người hùng lực: xác thân nguyện làm đại Bồ Tát; tâm linh nguyện là bầu trời Như Lai để ngàn sao c̣n lấp lánh, soi rọi tận cùng nơi vô thức của kiếp người cộng sản Việt Nam.=> TIẾP THEO

Mùa Đông Cali, tháng 12, 1995

Kính bút,

Thượng Tọa Thỉch Nguyên Siêu (Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá GHPGVNTN Văn Pḥng II Hoa Kỳ)

Gương Sáng Việt Nam (Rất Nên Đọc)

Người viết: NGUYỄN DUY AN
Bài số 768-1347-193-vb3061405

Tác giả Nguyễn Duy-An là cư dân Virginia, hiện là Vice President Information Technology của NATIONAL GEOGRAPHIC. Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, ông gửi một tự truyện và một truyện t́nh, đều bắt đầu từ B́nh Giả, một địa danh quen thuộc của Việt Nam thời chiến. Chưa đầy 3 tuần sau khi bài lên Việt Báo online, đă có hơn 3,600 người đọc “truyện t́nh cờ”, hơn 3,000 người đọc tự truyện của chàng trai B́nh Giả. Cả hai bài hiện dẫn đầu trong số 10 bài có nhiều người đọc nhất. Sau đây là phần tiếp tự truyện. =>Tiêp Theo

Một người nghèo lạ

 

Chàng nghèo thật hết chỗ nói, cả sự nghiệp của chàng chỉ có một bà mẹ già mà thôi.

Lâu lắm người ta mới biếu cho chàng một cái búa để đề ơn cứu sống một em bé chết đuối.

Được búa, chàng đưa mẹ vào núi, t́m một hang đá, chàng lót rơm êm và có gió mát để mẹ ăn ở; như thế chàng an tâm lắm. Ngày ngày đi kiếm củi rồi về chợ đổi gạo, mặc dù ít tiền, chàng vẫn mua được thịt để mẹ xơi. Tu Lại tên chàng chẳng những lan rộng với chữ hiếu, mà người ta c̣n gọi chàng là tráng sĩ, v́ chàng thường giúp đỡ nhân dân trong vùng ấy, bất    luận gặp một tai nạn ǵ chàng thường giúp đỡ họ tận lực.

V́ chàng ở núi, nên người ta đặt chàng những món tiền lớn để bắt các thú rừng hiền lành như: nai, khỉ, chồn, thỏ v.v… Tu Lại từ chối v́ chàng là một Phật-tử chơn-chánh, không bao giờ giết một sinh vật nào dù nhỏ. Chẳng những chàng không bắt chúng mà c̣n yêu mến chúng nữa, nên lâu ngày chúng quen và thường gần đến chỗ hai mẹ con chàng ở. Cái hang ấy bao giờ thành vui, hoa lạ nở hai bên, những tổ chim làm gần gũi đó.

Có những đêm trăng sáng mẹ chàng mẹ Phật, chàng ngồi bên kết mấy thứ cỏ khô thành áo để mặc mùa đông.

Nhưng đă sáu ngày nay, trời mưa luôn không ngớt, gạo trong hang đă hầu cạn, chàng lo ngại, nếu mưa cứ kéo dài. Hôm nay trời bừng sáng, Tu Lại sung sướng quá, chàng chào mẹ rồi vác búa ra đi, đến chỗ thường đốn củi, th́ xa xa có bóng ba thiếu nữ. Thấy có người, ba bóng kia bỏ đi nơi khác. Chàng để bầu nước xuống và sửa soạn vào việc th́ ồ thật, một chiếc kim thoa óng ánh “nằm ngă nghiêng bên tảng đá, không c̣n nghi v́ nữa, chàng vội nhặt lấy, rồi chạy theo ba thiếu nữ kia trả lại cho họ, người ta nh́n chàng với cặp mắt cảm trọng. Nhưng người tráng sĩ không trả ân bằng tiền gạo được, v́ người ta biết tiếng chàng nhiều lắm. Nhưng, từ độ ấy về sau, nơi hang mẹ chàng thỉnh thoảng có người đem biếu gạo trắng thịt ngon, trong lúc chàng đi làm củi vắng, cứ thế, rồi một ngày kia…

Một sáng mai khi chàng c̣n mơ màng chưa tỉnh hẳn th́ có một nàng tiên đến ngồi bên chàng, nàng tiên ấy trên trời sa xuống lâu hay mau không biết, hồi nào không hay, nhưng nàng là tiên thật, v́ nàng đẹp quá. Một tấm “voan” màu nước biển phủ nhẹ toàn thân, trên mái tóc xanh là một tràng hoa tươi. Chàng phải gượng với bộ áo sơ sài của ḿnh. Tu Lại lại ngồi phắt dậy: “Nàng là ai? Sao lại đến đây?”

Thiếp là sương phụ đánh rơi chiếc kim thoa hôm nọ, được tráng sĩ cho lại, về nhà thiếp suy nghĩ: “Ở đời giàu sang không phải chơn hạnh phúc, được gần bậc hiền nhân mới chắc chắn sống một lối sống của con người biết sống! Tiếng nay giàu có, của cải dư dật, cha mẹ không, chồng chết, chỉ có hai con thơ, nay thiếp đến đây nguyện theo chàng, mong chàng đừng phụ, thiếp xin thay chàng hầu hạ mẹ già, và giúp chàng học hành để thành danh đức, hầu sau làm lợi ích cho đời, nếu chàng cố chấp không nghe, thiếp rất tiếc tài ba đức độ của chàng vùi sâu trong hang thẳm”.

Tiếng nàng trong và êm quá, trong như tiếng suối chảy, êm như tiếng chim kêu, nàng nói với một vẻ thiết tha thành thật. Câu chuyện mới cắc cớ làm sao, mỗi lời nói của nàng như rót vào tai tráng sĩ.

Tu Lại mơ màng như người trong mộng. Chàng suy nghĩ: “Không biết ta chiêm bao hay thật, mà nàng là người thật hay ma”. Bỗng chàng nghiêm nét mặt và bảo: “Tôi xem nàng là người đoan chính lại giàu sang là do phước báu của đời trước đă gây tốt nhiều, c̣n tôi chỉ là một kẻ nghèo khổ, làm sao xứng đáng với nàng và, theo tôi, một người sương phụ cần phải thờ chồng, nuôi con, dạy vẽ cho con nên người, xứng với ư nghiă con người mới phải. Thiết thật hơn, tôi nay c̣n mẹ già, nếu tôi lập gia đ́nh, t́nh yêu mẹ sẽ san sớt, nàng c̣n có con thơ, nếu nàng lập gia đ́nh t́nh yêu con sẽ không c̣n nguyên vẹn, mẹ tôi cần có tôi mới vui, con nàng cần có nàng mới sống. V́ vậy tôi khuyên nàng trở về nuôi con và dứt bỏ câu chuyện này. C̣n nàng sợ đức độ tài ba của tôi sẽ mai một, nếu tôi quả có đức độ như nàng tặng, th́ trong rừng sâu các loài cầm thú cũng cần có đức độ để che chở cho chúng, như thế có đức độ th́ ở đâu mà lại không dùng được?

 Nàng tiên ấy bay đi, trời đương sáng bổng tối hẳn, người tráng sĩ cũng thấy nao nao trong ḷng, nhưng rồi chàng lại vui lên nhiều, v́ chàng đă chiến thắng. Song không hiểu v́ sao, những chuyện kỳ lạ lại hay đến với người nghèo lạ ấy.

 Một hôm, có một người lạ mặt hốt hoảng chạy đến lôi ra một thoi vàng thắm, rồi thưa với Tu Lại: “Thưa tráng sĩ, tôi xin biếu chút quà mọn nầy, nhờ tráng sĩ giúp cho tôi một lời nói. Ngày mai đây, nếu có ai hỏi: Có một đoàn người đi qua đây không? Th́ tráng  sĩ nói cho một tiếng “có”, ở đây chỉ có tráng  sĩ và tôi, ngoài ra không c̣n ai hay chuyện này cả; vả lại tráng sĩ chỉ nói cho một tiếng cũng không sao.”. Nói xong , người bỏ vàng lại đó, rồi chạy mất, Tu Lại chưa kịp suy nghĩ ǵ cả, nhưng chàng vội lượm vàng rồi chạy theo thật nhanh mới kịp. Tu Lại kéo tay người kia: “Không, không, vàng ông hăy cầm lấy, tôi không thể theo lời ông được, tôi là một người Phật tử không bao giờ làm việc ám muội, một lời nói của người quân tử trọng hơn ngh́n vàng, nhưng một lời nói c̣n trọng hơn cả thân mạng, nếu ông đem ngh́n vàng hay dùng uy thế để hại mạng tôi, bảo tôi nói dối, thà chết chứ không bao giờ phạm giới cấm của Phật”, nói xong Tu Lại bỏ vàng rồi chạy thẳng.

Tiếng tốt của người tráng sĩ bay xa như ngọn gió mát vô t́nh thổi từ rừng sâu vào đến thâm cung. A Dục Vương  là người hiếu kỳ, muốn thử chàng, nên những chuyện bỏ rơi và người cơn gái đến tận hang chàng chính là cung nhơn của vua A Dục Vương. Sau mấy lần thử thách, nhà vua biết Tu Lại là bậc hiền nhân nên đem ḷng đố kỵ sai người đến hại chàng. “Tôi vâng lệnh nhà vua đến giết tráng sĩ” người đao phủ cầm gươm sáng bảo thế.

- Ồ, thế th́ tốt quá, tôi rất cám ơn Ngài đă v́ tôi mà hủy giùm cái thân ô uế đầy tội lỗi này. Song tôi c̣n chút mẹ già nhờ ngài chiếu cố cho… Tên đao phủ ngạc nhiên trước thái độ thản nhiên củaTu Lại.

- Ông là vô tội, nhà vua v́ ḷng đố kỵ sai tôi đến hại ông, vậy ông không giận nhà vua sao?

- Không, tôi không giận mà c̣n thương hại nhà vua đă gây nhiều nghiệp ác, trước khi chết tôi xin cầu Đức Phật cho nhà vua phát Bồ Đề tâm hồi hướng thiện niệm.

Tên đao phủ mím môi, đỏ mặt đưa gươm lên cao dán xuống đầu chàng… nhưng lưỡi gươm kia xuống từ từ rồi chui thẳng vào vỏ kiếm…

Sáng hôm sau vua A Dục lên tận hang chàng ở, đến nơi, chàng đi làm củi sớm, vua chờ trọn ngày mới gặp. Vua A Dục từ tốn bảo: “Trẩm làm vua, trong nước có hiền tài mà Trẩm biết chậm thật là đáng tiếc! Ngày nay nước nhà loạn lạc Trẫm mong tráng sĩ về triều cùng Trẫm chăm lo việc nước, được vậy thật là hạnh cho nhân dân”. Chàng từ chối năm bảy dạo, vua nài nỉ đôi ba phen, cuối cùng chàng hẹn trong bảy ngày sẽ trả lời.

Trong bảy ngày, ba lần vua đến thăm ba lần vua cho người lên thăm hỏi. Tu Lại hỏi ư kiến mẹ, mẹ chàng bảo:

“Hiện nay mẹ trong nước, nhà vua th́ lăng mạn, hoang hung, hà khắc dân t́nh, nhân dân oán thán đến nổi họ đặt tên nhà vua là Chiên Đà La A Dục (ông vua hung tợn như người hàng thịt). Triều đ́nh nịnh thần ô lại; ngoài th́ vua hung tàn, con ngỗ nghịch, vợ bất chánh, chồng bất lương… đạo đức hầu như mất hẳn tất cả tâm niệm xấu xa độc ác kết hợp lại do đó giặc cướp nổi lung tung. Con nay chấp kinh cũng phải tùng quyền, vậy nhân cơ hội này con có dịp đem giáo lư của Đức Phật để cảm hóa quần sanh hầu mong cứu văn nhân tâm, đưa lại sự an ninh cho nhân loại”.

Vâng lời mẹ Tu Lại về triều, vua A Dục lấy hai chữ Quốc Bửu (vật quí của nước) tặng chàng làm tên.

Trước hết Quốc Bửu đem ba pháp quy y, năm điều cấm giới cảm hóa vua. Vua A Dục từ khi biết quy đầu về Phật không bao lâu trở thành một vị minh  quân. Ông đổi hẳn chính sách, lấy đức độ trị dân, không dùng oai thế tàn bạo như trước nữa. V́ thế mà nhân dân trong nước trở lại cảm phục vua, từ đó đặt tên vua là Thích Ca A Dục (ông vua hay làm đ́ều nhân từ).

Trong nước nhà vua trọng những người hiền hiếu, trừng trị kẻ hoang dâm, cấm hẳn sự xa hoa cờ bạc, săn bắn, triệt để không rựợu chè đàng điếm, người già cả bệnh hoạn được săn sóc chu đáo, nhà nhà đều thờ Phật, trọng Tăng tu Pháp “Thập thiện”*. Nếu ai phạm một trong năm đ́ều răn phải bị trục xuất ra khỏi nước. Nhờ vậy, không bao lâu trong nước trở lại thái b́nh an lạc.

Thuật giả: Thể Quán

­­­­­*Thập thiện: Mười điều lành. Thân không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm. Miệng không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói độc ác. Ư không tham lam, không giận dữ và không si mê.

“Thắng lợi chân chánh là ở Phật-giáo chứ không phải vũ khí”

A Dục.

 

H́nh ảnh Chị Như Không(đạo hữu Từ Hạnh) Đại Diện Nhóm Thảo Luận Phật Pháp và quư Phật Tử gần xa Trong Chuyến Về Việt Nam Cứu Trợ Đồng Bào Miền Trung vào tháng 10-11 Năm 2006(slide show)

XIN ĐỪNG BỎ RƠI TÔI - BÀI HÁT "LỜI QUÊ HƯƠNG" NHẠC PHAN NI TẤN PHỔ THƠ TRẦN TRUNG ĐẠO, NHỚ VỀ VIỆT NAM.

H́nh ảnh đạo hữu Đoàn Như và Không Thúy trong sinh hoạt Từ Thiện Lá Lành đùm Lá Rách tại Việt Nam 2004-2005

 Vườn Hoa Đạo:Bạn có biết: Đạo Hữu Thừa Thiên (Huệ Nhat) thanh viên nhóm TuBiTam đa tinh dây hoan toan sau gan hon 1 nam coma ! NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.

Ghi Nhận và Góp Nhặt:

 

Bạn c̣n nhớ hay đă quên: Hoà Thượng Thích Thiện Minh, Linh hồn của Gia Đ́nh Phật Tử Việt Nam bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam giết ngày 17 tháng 10 năm 1978 tại Sài G̣n.

Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm. Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương !!!

 

Tăn mạn: Thầy Tuệ Sỹ trong truyện ngắn bản Piano Sonata số 14, thày đă đưa ra một câu tự hỏi khá độc đáo:"Nếu tất vạn vật đều Vô Thường, th́ chắc ǵ cái Vô Thường lại không Vô Thường? Mp3 file download"

Xuân Hạ Thu Đông Rồi Lại Xuân-Điểm Phim by Toại Khanh (Mp3 file, DiệuHiền: Tŕnh Bày; Âm Thanh: DươngTiêu)Rất Hay Nên Nghe

Những Chuyện Vi Tiếu mang tính triết lư Đạo và Đời của DươngTiêu(Mp3 -Âm Nhạc: DươngTiêu; DiệuHiền: Tŕnh Bày)

Chương 1. Ngôi chùa Trên núi

Chương 2. T́nh Thầy Tṛ

Người mẹ rất đau khổ đặt đứa con mới sinh được mấy ngày trước cửa chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự rồi th́ thầm khấn:

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm! Con là người mẹ bạc phước vô duyên, sinh con mà không dám nuôi. V́ lỗi lầm tự tạo và v́ miệng đời chanh chua, dèm pha muôn nẻo. Nên con đă cắt núm ruột của con để lại nơi cửa Thiền, mong Ngài từ bi độ tŕ cho đứa trẻ. Xin ngài đoái thương và cứu vớt cho một người mẹ đă lỗi lầm.

Sương mù vẫn c̣n dày đặc, giăng tận xuống cổng tam quan. Sư Cụ Trụ Tŕ khoan thai từng bước một xuống thềm chánh điện và tiến ra phía trước cổng chùa để mở cửa. Bỗng nhiên, Sư Cụ nghe tiếng khóc của trẻ sơ sinh và nh́n chiếc nôi, trong ấy có một tờ giấy ghi mấy chữ ngoạch ngoạc như thế nầy:

“Kính lạy Ngài hoan hỷ nuôi dùm đứa bé. V́ lư do ǵ th́ xin Ngài đừng tra hỏi, xin hẹn lại một ngày sau. Nếu nhân duyên hội ngộ xin bày tỏ hết các ngọn ngành - người mẹ đau khổ kư tên”

Cửa chùa Hưng Phước bây giờ ngoài hồi chuông triêu mộ sớm chiều của các Tịnh Hạnh Nhơn hô canh ngày hai buổi, c̣n thêm tiếng khóc của trẻ thơ nữa. Đứa bé ấy thay v́ nghe lời mẹ ru với vơng đưa kẻo kẹt hằng ngày th́ được Hoà Thượng và các Tịnh Hạnh Nhơn cho bé nghe lời kinh tiếng kệ cùng mơ sớm chuông mai như thế nầy.

    “Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

    Nguyện tiếng chuông nầy vượt ngoài pháp giới

    Núi thiết vi u ám thảy đều nghe

    Nghe chuông ḷng thanh tịnh chứng viên thông

    Hết thảy chúng sanh đạt thành Chánh Giác

    Nghe chuông ngân ḷng nhẹ lâng

    Trí huệ phát Bồ Đề Tâm

    Ĺa địa ngục thoát hầm lửa

    Nguyện thành Phật, độ chúng sanh

    Phá Địa Ngục chân ngôn:

    Án Dà Ra Đế Da Ta Bà Ha

    Chuông gióng lên đợt đầu

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cơi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài rộng thênh

    Chuông gióng lên đợt hai

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cơi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài rộng thênh

    Chuông gióng lên đợt ba

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cơi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài viên thành.

    Ngưỡng chúc Phật pháp măi rạng ngời

    Bánh xe pháp đời đời chuyển vận

    Gió ḥa, mưa thuận thấm nhuần

    Dân an, nước thịnh, khắp cùng nơi nơi. O

    Trong ba cơi, bốn loài

    Mỗi mỗi thoát luân hồi

    Trong mười loại hữu t́nh

    Ắt ĺa khổ ngục h́nh. O

    Năm tháng thuận gió mưa

    Khỏi gặp năm đói khát

    Đông nam sống ḥa lạc

    Thời Nghiêu Thuấn thái b́nh. O

    Thôi chấm dứt chiến tranh.

    Tử nạn những thương vong

    Đều siêu sanh tịnh độ

    Đất lành, người hoàn hảo. O

    Loài chim bay, thú chạy

    Không bị lưới, bẩy giăng

    Kẻ lưu lăng cô thân

    Sớm quay về hương quán O

    Vô biên thế giới

    Đất rộng trời cao

    Tín thí gần xa

    Phước thọ dồi dào O

    Thiền môn hưng thịnh

    Phật pháp phát huy

    Thổ địa long thần

    Hộ Tăng an tịnh O

    Cha mẹ cùng thầy học

    C̣n, mất đều lợi lạc

    Tổ tiên bao đời trước

    Cùng nhau được siêu thoát. O

    Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Giá Na O

    Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Xá Na O

    Nam mô Đức Phật Thích Ca Mâu Ni O

    Nam mô Đức Phật Di Lặc Từ Tôn O

    Nam mô Đức Phật A Di Đà cơi Cực Lạc O

    Nam mô mười phương ba đời các Đức Phật O

    Nam mô Đức Bồ tát Đại Trí Văn Thù O

    Nam mô ĐứcBồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền O

    Nam Mô Đức Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm O

    Nam mô Đức Bồ tát Đại thế Chí. O

    Nam mô Đức Bồ tát Già Lam Thánh Chúng O

    Mười Phương ba đời bảy đức Như Lai

    Cùng tám mươi tám Phật trên liên đài

    Chúng sanh sáu đường mong thoát khổ

    Chín cơi mười loài khỏi trần ai O

    Chuông ngân dồn dập lại gióng lên

    Chùa viện chúng Tăng hăy nhớ ghi

    Tu tập bốn thời tuân qui chế

    Xuống giường cất bước giữ oai nghi. O

Tụng: Đại Bi, Kinh Di Đà, Bát Nhă, Niệm Phật, Hồi hướng, Phục Nguyện, Tự quy y và cuối cùng là đọc bài Kệ dứt chuông:

    Trăm tám tiếng chuông hướng Phật tiền O

    Trên thông dưới thấu thảy an nhiên O

    Sáu đường chúng sanh mong thoát khổ O

    Chín cơi  mười loài hết lụy phiền. O

    Nam mô siêu lạc độ Bồ Tát Ma Ha Tát O-OO-O.[2]

Sư Cụ Hoà Thượng Từ Tâm, Phương Trượng Chùa Sắc Tứ Hưng Phước là một bậc thâm nho kỳ cựu, Trước khi đi xuất gia, Ngài đă là một vị quan văn tại chốn triều đ́nh, xuất thân từ một gia đ́nh vọng tộc. Tuy không giàu có, do của bất chánh nhưng ruộng đất cha mẹ để lại cũng như bằng cấp và chỗ đứng trong xă hội, đă làm cho vị quan văn ấy không hổ phận khi xuất hiện trước bàng dân thiên hạ hay ở chốn quan trường đối với các quan trên dưới. Tuy nhiên đứng trên bàng dân để xử kiện hay giao dịch với các nước lân bang và những lần đi kinh lư, vị quan ấy thấy dẫy đầy những kịch tính mà ḿnh phải đóng như trong phim trường, cốt cho xong một bổn phận là “cha mẹ của dân”. Cứ mỗi lần xét xử một vụ kiện như thế, vị quan nầy chẳng yên tâm chút nào, dẫu cho luật pháp đương thời của triều đ́nh có nghiêm minh bao nhiêu đi chăng nữa, th́ đa phần kẻ thắng vẫn là kẻ có tiền, và có quyền do vậy mà Ngài đă chán ngấy cảnh nầy nên đă giũ áo từ quan, t́m vào chốn am thiền để t́m lại con người chân thật của ḿnh, đôi khi Ngài tự nhủ. Không biết trong đời này có ai nói thật những thói hư tật xấu của ḿnh cho người khác biết để tránh không? Hay cũng chỉ là tốt khoe xấu che. Có ai sợ sám hối ăn năn những lỗi lầm của ḿnh khi vấp phải hay cũng chỉ là vá víu tạm thời.

Chỉ chừng đó câu hỏi, và chỉ chừng đó suy tư cũng đă làm cho vị quan văn nầy tỉnh ngộ và chỉ có chốn thiền môn, mới có thể giải quyết được những thắc mắc nầy. Nhất là giáo lư thậm thâm vi diệu của Hoa Nghiêm, của Bát Nhă, của Tánh Không, của Duy Thức, giúp Ngài tỉnh giấc mộng Nam Kha, mà chốn quan trường cũng giống như:

“Xá chi một quả chuối xanh

Ba bảy người dành cho mũ dính tay”

Ngài đọc tiểu sử của Thiền Sư Huyền Quang đời Trần tức Lư Đạo Tái, vị nầy cũng xuất thân từ chốn quan trường, đă đổ bằng tiến sĩ, ra làm quan một thời gian nhưng lại về hưu non và quyết chí tu hành cho đến ngày đắc đạo. Hai câu thơ mà Huyền Quang để lại vào thời ấy nay vẫn c̣n có ư nghĩa như thường. Đó là:

“Khó khăn th́ chẳng ai nh́n

Đến khi đổ trạng tám ngh́n nhân duyên”

Thói đời vốn đen bạc, ḷng người thay trắng đổi đen, nhưng khi vào chùa cũng chưa phải là hết nợ. Ví như hôm nay đó, tự dưng thằng bé kháu khỉnh lại bị bỏ trước chùa. Ta lại phải cưu mang. Có lẽ họ nghĩ rằng: “Cửa chùa là cửa từ bi và vị thầy cưu mang đứa trẻ chắc cũng là chuyện b́nh thường như của Vua Lư Công Uẩn năm xưa chăng?”

Con ai đem bỏ chùa nầy

A Di Đà Phật con thầy thầy nuôi

Chưa hẳn là vậy. Đă là người xuất gia th́ làm ǵ có con riêng, trừ phi vị ấy lập gia đ́nh, có con cái rồi mới đi tu. C̣n đây ta vốn trinh nguyên từ chốn quan trường cho đến khi được sắc phong Hoà Thượng, biết đâu ta nuôi đứa bé nầy để ngày sau nó sẽ giống như Công Uẩn là:

“Nửa đêm chẳng dám dang chân duỗi

Chỉ sợ sơn hà xă tắc xiêu”

Biết đâu nhưng trong dáng điệu đứa bé nầy sao ta thấy nó kháu khỉnh quá, chắc rằng nghiệp lực của nó, c̣n nặng nợ trần duyên lắm; chứ chưa hẳn đă là một đứa bé “xuất trần thượng sĩ” đâu.

Ḥa Thượng Từ Tâm nh́n đứa bé một cách chăm chú và nó cũng đáp lại Hoà Thượng bằng tiếng khóc o oe...và đôi khi lại càng khóc to hơn nữa, khiến cho các vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa phải lo đi khuấy cháo sữa cho nó. Quả thật chùa đă bận rộn, lại càng thêm bận rộn hơn nữa.

Ngày lại tháng qua đứa trẻ ấy lớn lên như thổi, được Sư Cụ Từ Tâm đặt cho Pháp Danh là Ngộ Đạo, lấy họ của ḿnh làm chỗ dựa cho bé, kể từ đó, chùa như rạng rỡ hơn, v́ có tiếng khóc của trẻ thơ. Có người hiểu chuyện giúp Sư Cụ việc nầy việc nọ, như thay tả khuấy sữa cho bé, hoặc ru cho bé ngủ, nhưng cũng thật là lạ. Bé chỉ thích nghe chuông, ít thích những lời ru ngọt ngào, v́ thế cho nên nhiều người nói rằng: “Bé đúng là có căn tu nên mới gặp được Hoà Thượng.”

Cũng có nhiều người không hiểu chuyện, buộc miệng bảo rằng: “thấy đứa bé giống Hoà Thượng như đúc”

- Thế ấy đừng có nói đùa, Ngài là người quan lại Mỹ nhân chỗ quyền quư c̣n không thích, thích ǵ những chuyện vụng trộm như thế nầy. Chẳng qua v́ mối từ tâm, đúng như đạo hiệu của Ngài cho nên Ngài chỉ muốn nuôi đứa bé nầy thôi.

Ai nói ǵ, Ngài cũng chẳng phân trần, mà cũng chẳng giải thích. Chỉ có điều lúc nào Ngài cũng hoan hỷ mĩm cười và bảo rằng như thị, như thị…như thế đó, như thế đó.

Cái tên Ngộ Đạo, hay Đạo Ngộ nghe cũng hay hay, v́ đọc theo kiểu nào cũng đều xuôi tai cả. V́ đạo mà gặp Ngài hay gặp được đạo qua Ngài cũng hay thôi. Cha mẹ chắc ǵ đặt được cái tên hay như thế.

- Quả thật người mẹ ấy khôn đấy chứ! một vị Tịnh Hạnh Nhân nói thế. Trong khi đó người khác chen vào:

- Khôn ǵ mà khôn. Niềm vui ai hưởng chứ sự cực nhọc th́ khiến cho những già nầy mang, mà c̣n làm liên luỵ, phiền đến Hoà Thượng nữa.

- Vậy th́ chữ từ bi nơi cửa Phật để ở đâu?

- Để ở đâu cũng được, nhưng cũng nhiều lúc cần phải đóng cửa từ bi lại, chứ như trường hợp nầy, th́ Sư Cụ quá từ bi.

- Vậy th́ phải giải quyết sao đây?

- Đă phát nguyện làm và tu theo hạnh Bồ Tát th́ chấp nhận thôi. Cái ǵ ḿnh bỏ chạy, trốn tránh việc ấy cứ theo hoài. Việc ǵ ḿnh sẵn sàng đối diện th́ ḿnh sẽ vượt qua.

- Già không thấy trong luận Bảo Vương Tam Muội nói sao

- Nói như thế nào?

- Oan trái không cần biện bạch, v́ c̣n biện bạch th́ nhân quả chưa xả.

- Nhưng thầy ḿnh đâu có mắc nợ ai đâu? Suốt đời từ khi làm quan cho đến khi tu hành cũng đều làm việc “thi ân chẳng cầu báo” Sao hôm nay chùa ḿnh lại phải cưu mang thêm thằng bé nầy nữa?

- Biết đâu là Lư Công Uẩn tái sinh, hay Chu Nguyên Chương nhập thế chăng?

- Việc ấy xin miễn bàn.

Lời qua tiếng lại đối đáp với nhau của hai vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa, khiến Sư Cụ nghe được và từ tốn bảo rằng:

- Phàm làm người chúng ta phải có lượng từ bi, ngay cả khi chúng ta, những người tu theo Bồ Tát Hạnh bị oan ức, bị xẻ thịt phanh thây c̣n không giận người, trách đời, huống ǵ đây mới chỉ là một thử thách nhỏ. Các vị nghĩ như thế, v́ họ đem bỏ con trước chùa. Nếu đem ba kư lô gram vàng ṛng và hột xoàn, kim cương bỏ đó, chắc quư vị không trách cứ. Nhưng chắc ǵ hột xoàn kim cương, đă là một điềm lành. Thôi hăy chấp nhận vậy. Vả lại “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”xưa nay việc ấy vẫn thường, chúng sanh gây ra bao nhiêu tội lỗi chẳng cần biết, chỉ khi nghiệp đến rồi mới sợ mới lo. C̣n Bồ Tát phải biết ngay từ lúc gây nhân th́ quả ấy đă nắm chắc trong tay rồi. Cũng ví như nếu ta nhặt được quả cam non đem dùng th́ chắc rằng đắng lắm chẳng ăn được; nhưng qua thời gian năm tháng quả cam ấy chín, ta hái để ăn. Lúc ấy ta thấy ngọt. Vậy vị ngọt nầy từ đâu đến. Nếu chẳng phải từ cái chua kia mà có, v́ thế mà Phật dạy rằng: “Phiền năo tức Bồ Đề là vậy” Sự giải thoát giác ngộ quyết không ngoài những phiền năo khổ đau trong đời nầy mà có được. Trong cái nhân đắng ấy đă hàm chứa chất ngọt rồi, chỉ v́ chúng ta không biết chuyển hoá khổ đau tục luỵ thành Niết Bàn An Lạc đấy thôi, chứ nếu chúng ta biết áp dụng, đúng tinh thần Bồ Tát Đạo, th́ làm sao chúng ta có thể t́m niềm vui riêng biêt, khi chúng sanh c̣n đau khổ nơi chốn hồng trần nầy. Vả lại đứa bé nầy biết đâu sẽ tốt về sau, mà cũng có thể sẽ xấu về sau. Như trong kinh Kim Cang Phật dạy rằng: “Tất cả các pháp đều không có tính nhất định. Cái đúng của ngày hôm qua, cũng có thể là cái sai của ngày hôm nay, và cái sai của ngày hôm nay, có thể vẫn là cái đúng của ngày mai, v́ tất cả pháp đều là Phật Pháp cả. Dầu cho pháp ấy là pháp của thế gian hay xuất thế gian. Biết đâu người mẹ đau khổ của đứa bé nầy đang hối hận mà cũng đang hạnh phúc. Hạnh Phúc v́ được nhà chùa nuôi nấng tử tế và được huấn luyện học hỏi hằng ngày nơi chốn thiền môn; nên người mẹ rất an ḷng. Có người mẹ nào mà chẳng thương con. Biết đâu bà ta mỗi ngày đang dơi mắt trông vào chùa để xem hành hoạt của con ḿnh v́ thế mà hạnh phúc. Nhưng cũng biết đâu người mẹ đau khổ ấy rất khổ tâm, v́ muốn chuộc lại con ḿnh, nhưng sợ miệng đời đen bạc dèm pha. Do vậy mà vẫn âm thầm chịu đựng khổ đau và biết đâu Bồ Tát Quan Thế Âm thử ḷng những kẻ tu hành như chúng ta có thật sự cứu khổ khi kẻ lâm nguy đến kêu cầu với ḿnh chăng. Vả thật có nhiều lư do để mà suy đoán; nhưng nghĩ suy làm ǵ cho mệt trí. Hăy xem đây là một niềm vui là hạnh phúc rồi. V́ ta đă làm an ḷng cho một người mẹ khổ đau như thế”

Mới đó mà đă tṛn ba tuổi, bé Ngộ Đạo lúc nào cũng quấn quít bên Sư Cụ như thầy tṛ, như cha con và cũng như ông cháu. Người ngoài nh́n vào một già một trẻ lúc nào cũng bên cạnh nhau ra điều tâm đắc lắm.

Một hôm Sư Cụ Từ Tâm bảo rằng:

- Ngày mai là mồng một, chiều nay chúng ta sám hối

- Sám hối là ǵ vậy ông?

- Sám hối là sám hối. Bây giờ con c̣n nhỏ chưa hiểu đâu. Lớn thêm một chút nữa ông sẽ giải thích cho.

Bé vâng lời lên chánh điện vào giờ lễ sám hối. Bây giờ ai trông thấy bé cũng muốn gần. Kẻ xoa đầu, người vuốt tóc, trên ba cái chỏm trái đào c̣n lại. Hiện lên trên đôi má ửng hồng, giống như một hoa sen đang kỳ nở hương thơm ngát. Có người th́ trêu cháu hỏi mẹ cha ở đâu. Người th́ kín đáo hơn cho bé trái đào, trái ổi để được bồng ẵm và nâng niu bé. Ai làm cách nào bé cũng thuận theo và v́ thế Hoà Thượng được khen là người mát tay nuôi dạy trẻ. Có người bảo:

- Từ nhỏ đến giờ Sư Cụ đâu có bao giờ chăm sóc tuổi thơ đâu mà Ngài tài t́nh quá nhỉ.

- Th́ chăm lo cho chốn quan trường cũng là một h́nh thức chăm sóc không phải sao? Ấy là người lớn. C̣n ở đây là trẻ thơ, khó dạy khó bảo lắm. Có người lại ṭ ṃ muốn biết mẹ cháu là ai, biết đâu trong những người đi lễ chùa vào những lễ sám hối hay những ngày lễ lớn trong năm lại chẳng có mẹ cháu. Hăy để ư xem hành động của một người mẹ thật và một người bàng quan th́ sẽ rơ.

- Đâu có ai dại ǵ mà nhận con lại trong lúc nầy. V́ Sư Cụ chăm sóc kỹ quá mà! Một người đàn bà nói thế.

- Đă là con th́ hùm dữ chẳng ăn thịt con. Sao người mẹ nào lại đành đoạn thế?

Một bà khác nói:

- Theo tôi cứ để yên như thế là xong, lớn lên biết đâu tiểu sẽ đi tu. V́ ngày xưa người ta vẫn thường ví:

“Con vua th́ lại làm vua

Con săi ở chùa phải quét lá đa”

- Nhưng sư phụ ḿnh đâu phải là người thường. Đó là bậc quan lại của triều đ́nh. Đă bỏ chốn quan trường vào cửa Phật xuất gia, th́ chắc rằng Ngài cũng phải cho tiểu nầy học đến nơi đến chốn chứ.

- Ừ tuỳ theo thằng bé nếu nó thông minh.

- Trông dáng nó ḱa vừa xinh vừa hồng hào, trông như quả đào chín mộng ấy!

- Ấy đừng khen con trẻ ở tuổi nầy

Sau lễ sám hối hôm đó, bé Ngộ Đạo được vào liêu pḥng của Hoà Thượng Phương Trượng và bé cất tiếng hỏi “Bạch sư ông, mẹ cha của con sao chẳng thấy đến chùa lễ Phật?

Câu hỏi của bé khiến sư ông suy nghĩ hồi lâu mới trả lời.

- Chắc là bận lắm!

- Nhưng con chưa bao giờ gặp

- À! chuyện nầy th́ dài ḍng lắm, làm sao con hiểu hết được đây. Nếu ông có nói cho con nghe bây giờ, th́ sau nầy chắc ǵ con c̣n nhớ. V́ con c̣n quá nhỏ, thôi để từ từ khi con lớn lên năm, bảy tuổi ông sẽ kể cho con nghe. Lúc ấy, con sẽ có được sự nhận định rơ ràng hơn. C̣n bây giờ th́ …

- …. con muốn nghe

- Nhưng ở tuổi này con nghe đâu có ích ǵ. Con hăy trở lại pḥng ḿnh đi ngủ sớm, ngày mai c̣n phải cùng ông ra vườn tưới cây kiểng và xem bướm hay hoa nở nữa.

Con nít khi bị dụ vào mục tiêu khác, nhất là mục tiêu nào chúng thích th́ chúng sẽ sớm quên ngay những ǵ chúng đang đ̣i hỏi. Dầu cho việc đ̣i hỏi ấy, có quan trọng đi nữa cũng sẽ dễ quên đi. Sáng hôm sau cả hai ông cháu đều ra vườn và họ thủ thỉ với nhau ra chiều tâm đắc lắm.

Đây là bụi hoa mai, đây là giàn hoa thiên lư, đây là hoa cẩm chướng, đây là hoa anh đào.

- Nhưng tại sao gọi là Hoa, thưa ông?

- Th́ tại nó là hoa. Nhưng sau nầy con lớn khôn lên, con học chữ Hán để biết th́ ư nghĩa kỳ diệu lắm! Chữ Hán là một loại chữ tượng h́nh, từ đời ông Bành Tổ bên Tàu đă hơn năm ngàn năm nay, họ dùng chữ tượng h́nh để viết và gọi tên con người, con vật, cây cỏ v.v..Ví dụ như chữ Hoa viết bên trên là bộ Thảo có nghĩa là loài cây cỏ. Bên dưới là chữ Hoá có nghĩa là sự biến đổi của đất trời vạn vật. Nếu chiết tự thêm ra nữa th́ một bên có bộ nhân đứng tức là người, c̣n bên kia là bộ Trĩ ví như cuộc đời nầy yên lặng. Mọi việc đều vô sự mà có đầy đủ việc ăn uống an lành. Như thế cả ba bộ ghép lại thành chữ Hoa. Hoa là kết tinh của cuộc đời, của con người và của sự vật. Hoa mang hương sắc đến cho đời, điểm tô cho đời thêm lộng lẫy nên thơ và chính hoa cũng làm cho đời khổ lụy. …

- Tại sao vậy ông?

- Th́ cũng như trường hợp của mẹ con đó. Người ta khi nghĩ đến một người đàn bà c̣n trẻ mà bạc phước th́ người ta nói uổng một đời hoa,

- Vậy mẹ con đă chết hay c̣n sống?

- Chắc rằng …..

- Mẹ con đă chết hả ông?

- Điều đó không chắc lắm, v́ con là đứa con rơi, mẹ con đem bỏ trước cửa chùa vào một ngày mùa đông mưa gió, mới đó mà cũng bốn, năm năm rồi. Quả thật thời gian trôi nhanh thật, đâu có ai ngờ….

- Ngờ ǵ thưa ông?