Chương 5. Tha Phương Cầu Đạo
Cánh cửa thất nơi Phương Trượng đường đă được mở vào sáng nay sau hơn tám năm Sư Cụ Từ Tâm nhập thất để mỗi tối tŕ tụng kinh Kim Cang, niệm Phật và tŕ thần chú Đại Bi. Tuy Ngài không tiếp xúc với thế sự hằng ngày, nhưng mọi việc xảy ra bên ngoài Ngài đều biết rơ, nhất là việc nội tự trong thời gian qua. Đầu tiên Ngài bước xuống thiền sàng lễ Phật và đi quanh vườn chùa, đáo mắt chỗ nầy, chỗ nọ, đoạn quay lại Phương Trượng Đường và kêu hai chú Ngộ Đạo và Ngộ Tánh vào dặn rằng:
- Nay th́ Ngộ Đạo tuy chưa đủ 20 tuổi để thọ giới Tỳ Kheo; nhưng theo Luật định kẻ ở chùa từ nhỏ đến lớn, có thể tính mỗi năm là một tháng. Do vậy hơn 18 năm qua, con ở chùa là hơn một năm rưỡi, cộng với hơn 18 tuổi của con, vị chi là gần 20 tuổi. Cái tuổi có thể đăng đàn thọ cụ túc giới, nơi “Tuyển Phật Trường”. C̣n Ngộ Tánh tuy tánh ấy vẫn chưa sáng, v́ đă trải qua một cơn giông tố nội tâm, tuy nhiên giới luật sẽ ràng buộc kẻ tu hành và giúp ta thoát qua chặng đường sanh tử, nên ta quyết định cho hai con thọ “Cụ Túc Giới”. Sau khi thọ xong, đúng theo luật các con phải ở thêm năm năm nữa với ta, nhưng ta thiết nghĩ các con nên chuẩn bị hành trang, ta sẽ cho các con đi tha phương cầu học đạo giải thoát.
- Mô Phật chúng con xin vâng.
- Cả hai nh́n nhau trong tâm trạng kẻ buồn người vui. V́ nghĩ rằng cái ngày ấy chắc chắn rồi cũng phải đến trong cuộc đời của một người tu sĩ như hai chú Ngộ Đạo và Ngộ Tánh.
Sau khi thọ giới Tỳ Kheo tại chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự, hai tân Tỳ Kheo Ngộ Đạo và Ngộ Tánh theo lời dạy của Sư Cụ chuẩn bị hành trang thật kỹ càng để đến các nước láng giềng học Đạo.
Nước đầu tiên mà hai Thầy tân Tỳ Kheo nầy đến là Ấn Độ. Trước khi đi, hai Thầy cũng đă t́m quyển “Đại Đường Tây Vức Kư” của Ngài Huyền Trang biên soạn vào năm 645 tức vào năm Trinh Quán thứ 19, tại Trung Hoa bằng chữ Hán để học. Các vị nầy sau khi đọc xong đều trầm trồ thán phục. Ngày ấy vào thế kỷ thứ 7, mà Ngài chỉ đi bộ suốt hai năm, chuyến đi và lúc về nào kinh sách, tượng Phật, xá lợi nặng nề trên hai vai và voi ngựa và Ngài cũng đă phải lặn lội qua những con sông sâu. Khổ cực biết dường nào. Thời gian ấy cũng tốn hai năm nữa. Cộng thêm với 15 năm ở Ấn Độ và các nước lân bang, trong đó có năm năm ở tại Đại Học Na Lan Đà, Ngài Huyền Trang học Du Già Sư Địa Luận và các bộ Luận lớn với Pháp Sư Giới Hiền. Ngài ra đi lúc 33 tuổi và về lại kinh đô Trường An lúc đó 50 tuổi. Vua Đường Thái Tông dâng cho Ngài cung Ngọc Hoa, để Ngài chủ tŕ dịch những kinh sách tiếng Phạn đă mang về ra tiếng Trung Hoa, đến 657 bộ. Suốt 19 năm trường như thế, Ngài đă miệt mài với kinh điển. Buổi sáng Ngài chủ tŕ phiên dịch, buổi chiều giảo chính lại câu văn và buổi tối thăng toà thuyết pháp về những ǵ đă dịch được trong ngày hôm ấy. Đến năm 664, Ngài viên tịch thọ 69 tuổi. Như vậy cả cuộc đời, Ngài đă hy sinh cho hậu thế biết dường bao. Đặc biệt trong quyển “Đại Đường Tây Vức Kư” Ngài đi đến đâu cũng đều có ghi lại rơ ràng từng nơi, từng Phật Tích về phong tục tập quán, ngôn ngữ, bộ phái v.v. Nếu không có tài liệu ấy những người học Phật đi sau thật là khốn khổ.
Hai Thầy đọc đến đoạn Ngài Huyền Trang đến Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, hai Thầy nhớ lại câu Ngài Huyền Trang đă thán lên lúc ấy như sau:
”Phật tại thế thời, ngă trầm luân,
Kim đắc nhân thân, Phật diệt độ,
Áo năo thử thân đa nghiệp chướng,
Bất kiến Như Lai, kim sắc thân.”
Nghĩa là
“Lúc Phật tại thế, con trầm luân,
Nay được thân người, Phật diệt độ,
Buồn trách sao ḿnh nhiều nghiệp chướng,
Chẳng thấy thân vàng của Như Lai.”
Đó là tâm trạng của Ngài Huyền Trang hồi thế kỷ thứ 7. C̣n bây giờ đă gần 1000 năm sau, hai Thầy tân Tỳ Kheo Ngộ Đạo và Ngộ Tánh mới đến được xứ Ấn Độ và lần đầu tiên họ t́m đến Bồ Đề Đạo Tràng để đảnh lễ Phật. Họ đi quanh Đại Tháp ba ṿng như để hồi tưởng lại Như Lai sau khi diệt độ và cứ mỗi nơi có ghi lại dấu tích ǵ hai Thầy đều chí thành cung kính đảnh lễ.
Khi đến Kim Cương Toà dưới cội Bồ Đề, nơi đây đức Thế Tôn đă thành Chánh Đẳng Chánh Giác, họ quỳ xuống oà khóc như trẻ thơ vắng mẹ lâu ngày, bây giờ mới gặp lại. Họ mừng quá và thầm nghĩ rằng: “Đúng là ḿnh có phước duyên, chứ bao nhiêu người giống như ḿnh đâu có được cơ hội ấy. Họ nh́n cành lá cây Bồ Đề vẫn c̣n tỏa rộng, che rợp cả lối đi và có nhiều cành c̣n vươn cao lên phía đại tháp nữa. Họ cụng đầu nhiều lần vào cành cây Bồ Đề và gục đầu khóc nức nở như chưa bao giờ được khóc như thế.
Kế đến họ đi ra phía sau, nơi Đức Phật lần đầu tiên quy y cho hai người thương nhân Miến Điện , lúc ấy khi vừa thành đạo th́ hai thương nhân nầy đến muốn xin quy y. Phật đă nhận lời và khi ấy mới có nhị bảo chứ chưa có Tam Bảo. Nghĩa là chưa có Tăng Đoàn. Rồi họ đi đến chỗ tuần lễ thứ hai, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy sau khi Đức Phật thành đạo để đảnh lễ những nơi mà Phật đă trầm tư cũng như nói lên những câu nói thật giá trị lịch sử. Ví dụ như câu: “Không phải khi mới sinh ra, người ta là một Bà La Môn, mà người ta phải làm ǵ đó mới có thể trở thành một Bà La Môn” v.v..
Quang cảnh Bồ Đề Đạo Tràng chung quanh c̣n hoang phế lắm. Hai Thầy ghé thăm Đại Học Ma Kiệt Đà đă một thời huy hoàng sánh với Na Lan Đà. Cũng như thăm hang đá nơi Đức Phật tu khổ hạnh, rồi qua sông Ni Liên Thiền để xem nơi Đức Phật tắm rửa, trước khi thành đạo.
Gần đó, có Linh Thứu Sơn, Trúc Lâm Tịnh Xá và Đại Học Na Lan Đà họ cũng đă ghé qua. Khi đi lên con đường của Vua Tần Bà Sa La đi thuở nọ, họ h́nh dung rằng Vua đă phải cực nhọc như thế nào. Rồi đến động đá A Nan và Ngài Xá Lợi Phất. Chính nơi động đá nầy, theo Ngài Huyền Trang ghi lại trong Đại Đường Tây Vức Kư th́ Ngài A Nan tu Thiền bị ma quấy nhiễu và Ngài phải nhờ đến Phật giúp an tâm cho. Ngài là vị thị giả luôn hầu cận bên Đức Phật, nên hang đá nầy nằm phía dưới chân núi, c̣n hương thất của Phật nằm tận trên đỉnh cao. Điều ấy cũng hợp với một trong năm điều kiện của Ngài đưa ra khi nhận làm thị giả cho Phật là: “Bất cứ ai, trước khi muốn gặp Đức Phật th́ phải qua Ngài.” Nếu A Nan thấy Phật đang bận ngồi Thiền hoặc giảng Pháp, Ngài sẽ không cho vị khách ấy gặp, dầu cho vị khách đó là ai đi chăng nữa. C̣n Ngài Xá Lợi Phất, bậc trí tuệ bậc nhất bao giờ cũng ở gần Tăng chúng để dạy dỗ họ. Hai Thầy Ngộ Đạo và Ngộ Tánh đến đây những tu viện trên núi Linh Thứu chỉ c̣n là những nền đá trơ gan cùng tuế nguyệt. Năm tháng chất chồng, thời gian thay đổi, tất cả rồi cũng phải như thế thôi. Đó là Đức Phật và những vị Quân Vương nổi tiếng. C̣n thân phận của hai người, thật ra nó chẳng có một mảy may ư nghĩa ǵ so với cuộc sống thế trần nầy.
Họ leo lên tận đỉnh núi để nh́n xuống kinh đô xứ Ma Kiệt Đà, rồi đưa mắt nh́n xuống nền móng nhà tù khi Vua A Xà Thế đă giam giữ phụ vương ḿnh để đoạt ngôi, v́ theo lời xúi giục của Đề Bà Đạt Đa. Chính nơi đây Đức Phật đă truyền giới Bát Quan Trai cho vua Tần Bà Sa La và dùng thần thông để cho Hoàng Hậu Vi Đề Hy thấy hết các cảnh trong thế gian và cuối cùng Hoàng Hậu muốn sau khi chết được văng sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.
Sau khi viếng thăm Trúc Lâm Tịnh Xá, suối nước nóng và nơi kiết tập kinh điển lần đầu tiên nơi động Thất Diệp cùng Đại Học Na Lan Đà, hai người đă t́m cách đi đến vườn Lộc Uyển bên sông Hằng, để đảnh lễ nới Đức Phật đă thuyết bài Pháp Tứ Diệu Đế đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như nghe và bắt đầu từ đó Tăng Đoàn được thành lập. Tại đây cảnh trí hoang sơ lắm. Chỉ c̣n lại ngôi Đại Tháp và trụ đá A Dục cũng như những nền cũ của các Tu Viện ngày xưa. Điều ấy chứng tỏ rằng khi đạo Phật thịnh hành và có những bậc Thánh Tăng xuất hiện, th́ đă có hàng hàng lớp lớp người từ bỏ thế tục xuất gia cầu đạo giải thoát và khi Phật Giáo lâm nguy, không phải là Phật Giáo đă chết, mà Phật Giáo chỉ chuyển ḿnh hướng theo một quy luật khác để tồn tại mà thôi.
Ngộ Đạo và Ngộ Tánh đắm ch́m nơi ánh sáng từ bi của Đức Phật và những công đức của Vua Chúa cùng những người giàu có ngày xưa đă giúp cho Phật Giáo ở nhiều lănh vực, cho nên nhân loại ngày nay dầu ở đâu trên quả địa cầu nầy cũng đều có thể học hỏi giáo lư giải thoát ấy được. Họ lần ḍ đến nước Xá Vệ, nơi mà Thái Tử Kỳ Đà cùng ông Trưởng Giả Cấp Cô Độc đă dâng trọn của cải cũng như niềm tin lên đức Phật và chư Tăng, họ đă dựng Kỳ Viên Tịnh Xá cúng dường cho Đức Phật và Tăng chúng. Trong hơn 45 mùa hạ của Đức Phật, Ngài đă an cư nơi đây hơn 25 lần và những kinh quan trọng được thuyết giảng nơi đây. Trong đó có kinh A Di Đà.
Bên cạnh đó có nhà của chàng Vô Năo và nơi đức Phật đă dùng thần thông, thi triển thần lực với ngoại đạo. Cho đến lúc Ngộ Đạo và Ngộ Tánh tới nơi, ở đây cũng chỉ c̣n những dấu tích hoang phế của một thời. Điều ấy Bà Huyện Thanh Quan đă chẳng than khi tâm hồn hoài Lê vẫn c̣n đó:
“Tạo hoá gây chi cuộc hư trường,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương,
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Non c̣n cau mặt với tang thương,
Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.”
So ra th́ ở đâu cũng chỉ thế thôi! Có c̣n chăng là c̣n cái Phước, cái Đức và cái trí tuệ, chứ lâu đài cung điện, nhà cửa ruộng vườn trước sau rồi cát bụi cũng trả về cho cát bụi mà thôi.
Họ t́m đến nơi cây Bồ Đề A Nan để hồi tưởng về người Đệ Tử mà Đức Phật rất thương mến đó. Sau đó họ t́m đến nơi nàng vũ nữ giả bụng mang dạ chửa để vu oan cho Phật. Đến nơi nầy th́ Ngộ Đạo quay qua Ngộ Tánh hỏi rằng:
- Thế Sư Huynh có nhớ chuyện nầy không?
- Chuyện ǵ thế?
- Chuyện nàng vũ nữ độn bụng chữa vu oan cho Phật đó.
- Đệ kể lại xem
- Đây là câu chuyện: “Thuở ấy ngoại đạo không thích ǵ sự phát triển của Tăng Đoàn của Đức Phật. Một hôm Đức Phật đang thuyết pháp có một ma nữ giả bụng mang dạ chữa và vu oan cho Đức Phật và cho rằng chính cái bào thai trong bụng là con của Ngài. Ngài vẫn điềm đạm không tỏ ra một thái độ ǵ cả. Trong khi các vị có trí tuệ biết rằng đó là việc vu oan. Nhưng những bậc xuất gia mà lậu tận chưa hết, sinh ra nghi ngờ, không hiểu tại sao mà Phật lại như vậy. Chư Thiên thấy thế không xong; để giải ḷng tin cho mọi người, nên mới hiện thân ra con chuột chui vào bụng nàng ma nữ cắn đứt sợi dây bên trong. Thế là cái bụng độn rơm kia bị tuột xuống. Nàng mắc cỡ quá mới đâm đầu xuống cái giếng nầy tự tử và giếng ấy vẫn c̣n đây”
- Lúc nào Sư Đệ cũng rành rẽ hơn ta
- Không dám! Có đâu như Sư Huynh lúc nào cũng t́m đến ma nữ.
- Nhưng có sao đâu?
- May mà Sư Cụ cho anh em chúng ta đi học xa như thế nầy, chứ c̣n ở trong nước th́...
- Th́ sao?
- Th́ lửa gần rơm lâu ngày sẽ bị cháy.
- Nhưng bây giờ th́ Sư Huynh đă quên nàng rồi
- Chắc không đó?
Họ nói với nhau như chọc ghẹo để nhớ lại chuyện lẫm cẫm vừa qua, nhưng đời họ đâu có ǵ để luận bàn. Họ chỉ chăm chú một việc là đi chiêm bái và đảnh lễ những nơi c̣n lại. Thế là họ đă đến nơi thành Tỳ Xá Ly.Nơi đây có nhiều sự kiện quan trọng lắm. Ví dụ như Đức Phật lần đầu tiên tuyên bố là Ngài sẽ Nhập Niết Bàn. Nơi ngài độ cho Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề xuất gia. Nơi đức Phật lên cơi trời Đao Lợi để giảng kinh Địa Tạng cho mẫu hậu Ma Da nghe. Nơi mà ông Duy Ma Cật đă hiện thân bịnh để nói pháp. Cuối cùng là thành Tỳ Xá Ly cũng là nơi kiết tập kinh điển lần thứ hai sau khi đức Phật diệt độ 100 năm.
“Thuở ấy, Ma Ba Tuần đă hiện ra và thưa với Phật rằng:
- Bạch Ngài! Tất cả những ǵ đáng độ, Ngài đă độ. Bây giờ các chúng đệ tử của Ngài đă đủ. Ngài nên vào Niết Bàn như lời đă hứa sau khi thành đạo”
Đức Phật lấy móng tay của ḿnh múc lên một ít đất và hỏi Ma Ba Tuần rằng:
- Đất trong móng tay ta nhiều hay ở dưới đất nhiều?
- Dĩ nhiên là đất trong móng tay Ngài ít hơn
- Cũng như thế đó. Những ǵ ta đem dạy cho đệ tử của ta cũng giống như đất trong móng tay nầy. C̣n những ǵ ta chưa dạy c̣n lại nhiều như đất của đại địa vậy. Thôi c̣n ba tháng nữa ta sẽ vào Niết Bàn.
Trong khi đó Ngài A Nan ở trong rừng trải qua một giấc mơ rằng cành lá của cây đại thọ đă rụng hết, chỉ c̣n một gốc cây trơ trọi. Sau đó Ngài về bạch Phật rằng đă xảy ra chuyện ǵ th́ Phật bảo: Trước đó ta có bảo cho ngươi nghe rằng: Một bậc giác ngộ nếu có lời thưa thỉnh, ta sẽ ở lại lâu dài hơn trên đời nầy, nhưng đầu óc của ngươi đă bị Ma Ba Tuần che khuất, khi nhớ ra th́ đă muộn rồi. V́ ta đă hứa với Ma Ba Tuần ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết Bàn.
Ngài A Nan nghe thế dập đầu xuống đất khóc than thảm thiết; nhưng biết làm sao hơn…”
Gần đây có vườn nhà của ông Trưởng Giả Duy Ma Cật nữa. Có lẽ tưởng tượng thôi. Chứ cái vườn nhỏ như thế nầy mà chứa đến chín triệu Bồ Tát từ cơi trời Chúng Hương đến và mỗi vị có một toà sư tử th́ chỗ nào mà ngồi cho đủ trong vườn nầy.
Đọc kinh Duy Ma Cật Ngộ Đạo thấy có nhiều điểm hay và hôm nay nhân đến vườn nầy nên hỏi Ngộ Tánh thử Sư Huynh ḿnh có nhớ ra không?
- Thưa Sư Huynh! Sư Huynh có biết tại sao khi Thiên Nữ hiện thân ra nơi đây để rải hoa dâng cúng các vị Bồ Tát và các vị Thanh Văn mà khi hoa rơi trên vai của Bồ Tát lại không dính, nhưng lại dính trên vai của các vị Thanh Văn?
- Chắc các vị Thanh Văn thích hoa hơn các vị Bồ Tát.
- Chưa đúng hẳn
- Vậy chứ sao?
- Nghĩa là theo đệ các vị Thanh Văn tu hành c̣n chấp trước lắm. Do vậy hoa rơi đến đâu th́ dính đến đó. C̣n các vị Bồ Tát vượt lên trên sự chấp có, chấp không cho nên mới không bị dính.
- Thế Sư Đệ muốn tu theo hạnh nào?
- Chắc Sư Huynh đă biết rồi.
- C̣n ta, ta chỉ tu theo pháp Thanh Văn thôi
- Nghĩa là vẫn c̣n nghĩ đến người đẹp?
Ngộ Tánh liếc một cái thật mạnh về Ngộ Đạo làm như có ư trách móc và Ngộ Tánh hỏi lại Ngộ Đạo rằng:
- Thế th́ món cơm Hương Tích tại sao mà có?
- V́ Ngài Duy Ma Cật muốn các vị đệ tử của Phật Thích Ca biết được công đức của Phật ở cơi Chúng Hương ấy như thế nào, mới có ư ấy
- Nhưng tại sao chỉ một nồi cơm nhỏ mà mấy ngàn, mấy vạn, mấy triệu Bồ Tát ăn cũng không hết?
- Đó là tưởng tượng thôi Sư Huynh ơi! Ngoài ra, cơm Hương Tích là cơm công đức , không thể ăn hết công đức của vị Phật ở cơi chúng Hương kia được.
- Đúng là xứng đáng Sư Đệ của ta rồi. Hèn ǵ mà lúc nào Sư Cụ cũng tuyên dương Sư Đệ ở nhiều phương diện…
- Việc ấy Đệ đâu có bao giờ để ư.
Nói xong hai Thầy t́m đến nơi Đức Phật đă độ cho Bà D́ ruột là Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 thể nữ cùng xuất gia với điều kiện là phải giữ ǵn tám pháp cung kính với hàng ngũ Tăng Già. Tiếp đó họ hướng về phía thành Câu Thi Na, nơi đức Phật nhập diệt để lạy tam bộ nhứt bái và mười mấy ngày sau họ đă đến nơi.
Ở đây dấu tích hai cây Sa La vẫn c̣n đó và h́nh Phật nằm nhập Niết Bàn bất động, trông dáng vẻ rất từ bi, nhưng cả hai người đều không cầm được nước mắt, họ đă khóc như chưa bao giờ được khóc, rồi họ ôn lại những ǵ trong kinh Đại Bát Niết Bàn cũng như kinh Di Giáo mà Phật đă dạy. Sau đó họ đi đến nơi làm lễ trà tỳ của Đức Phật. Bây giờ chỗ nầy chỉ c̣n một tháp kỷ niệm lớn. V́ xá lợi đă được các Vua Chúa đương thời phân chia ra để thờ và Vua A Dục về sau cũng đă dựng 84.000 Tháp để thờ xá lợi ấy và ngày nay xá lợi của đức Phật đă hiện diện khắp mọi nơi. Từ Thiên cung cho đến Long cung và ở cơi Diêm Phù Đề nầy nữa, nơi nào mà chẳng có pháp thân của đức Phật.
Câu Thi Na vào một chiều thu trông rất buồn và ảm đạm. Họ cũng đă cảm lây với cái không khí đau sầu khổ năo của các đệ tử Phật trước khi Ngài vào Đại Bát Niết Bàn. Họ xót thương cho thân phận của ḿnh là sinh ra sau Phật quá xa. V́ thế ánh sáng chánh pháp đă yếu dần. Thay vào đó là Ma Vương Ngạ Quỷ đă hoành hành khắp nơi trên thế giới. Người có đức hạnh đă ở ẩn trong rừng sâu, trên núi cao. Chỉ có những người đạo hạnh không tinh chuyên th́ đang múa may quay cuồng với nhân thế.
Họ phải vượt qua biên giới bằng thư giới thiệu của nhà chức trách, mới đến được nơi vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Thái Tử Tất Đạt Đa đản sanh vào năm 624 trước Thiên chúa ra đời. Giờ đây cây Vô Ưu không c̣n nữa. Chỉ c̣n trơ lại cây trụ đá Vua A Dục, do Ngài Huyền Trang phát hiện trong thế kỷ thứ 7. Bây giờ vẫn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Chung quanh đó chẳng c̣n ǵ, Chùa Viện hầu như hoang tàn đổ nát, trông thấy mà cảm lây với sự tang thương của đất trời vạn vật. Bên cạnh đó có một hồ nước thiêng, tương truyền rằng sau khi mẫu hậu Ma Gia hạ sanh Thái Tử, chín con rồng đă phun nước để tắm cho Thái Tử và hoa sen từ dưới đất đă mọc lên để đỡ chân Thái Tử trong mỗi bước đi, để đến bước cuối cùng Ngài nói:
“Trên trời dưới đất chỉ có cái ta là quan trọng hơn cả và đây là lần sanh cuối cùng của ta”
Quả là bậc Chánh Biến Tri. V́ khi Ngài sanh ra, Ngài đă biết sanh vào đâu và chọn lựa chốn nào để sanh. C̣n chúng ta ở nơi bụng mẹ trong chín tháng mười ngày tối đen như mực,, chẳng biết thế giới bên ngoài ra sao, chứ bên trong toàn là máu huyết, đờm giải và bị ngột thở. Thế mà nhiều người đă chẳng chịu ra. Cứ muốn dấn thân vào. Đă đành nếu là Bồ Tát vào cơi hồng trần không có sao. V́ các Ngài có thể dùng tâm Bồ Tát và hành động của Bồ Tát để chuyển hoá khổ đau thành ra an lạc hạnh phúc. C̣n chúng ta th́ trái lại. Ta vào đời đâu phải v́ nguyện lực độ sanh đâu. Tất cả chỉ v́ nghiệp lực, mà đă là nghiệp lực th́ ḿnh cứu ḿnh c̣n không nổi làm sao cứu ai nổi.
Sau khi thăm tất cả những thánh tích trong cuộc đời đức Phật, họ đă học được bài học vô giá cho cuộc sống tu hành của họ, cho bây giờ cũng như cho mai hậu. Nhân cơ hội ấy họ đă đi hết xứ Nepal rồi Bhutan và vượt qua Hy Mă Lạp Sơn để vào thăm Tây Tạng huyền bí.
Xứ Tây Tạng khi chưa lập quốc đến bây giờ quốc gia nầy lấy Phật Giáo làm quốc giáo. Đặc biệt từ thế kỷ thứ 9 thứ 10 Đức Đạt Lai Lạt Ma, được kính trọng là hoá thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, với ḷng từ bi vô lượng Ngài đi vào đời để cứu khổ chúng sanh. Chữ Lạt Ma có nghĩa là vị Thầy. Chữ Đạt Lai có nghĩa là Trí Tuệ. Vị Thầy ấy được người dân Tây Tạng cung kính như là một vị Phật sống, một quốc vương, một tăng vương, cai trị một quốc gia toàn núi đồi và có dân số rất ít chừng mấy triệu người.
Họ có triều đ́nh gồm hai viện. Một viện do chư Tăng điều hành và một viện do cư sĩ điều hành. Kinh điển mà họ dùng đa phần bằng tiếng Phạn và tiếng Tây Tạng. Họ ảnh hưởng rất nhiều về Mật Giáo bởi các vị Đại Sư Santideva và Ngài Tông Khách Ba v.v..
Cung điện Potala là một cung điện gồm nhiều tầng và nhiều dăy nhà ngang dọc. Trên cùng nơi lớn nhất là nơi thờ Tượng Đức Quan Thế Âm. Bên cạnh đó là Pháp Toà, cũng là ngai vàng của Đức Đạt Lai Lạt Ma ngự trị.
So với Ấn Độ, Népal th́ Tây Tạng, cách kiến trúc khác xa rất nhiều. Vả lại nơi đây toàn là núi đồi, cho nên những chùa viện được cất thật cao trên vách núi cheo leo. Cứ tưởng tượng rằng một vị Tăng sĩ khi vào đó nhập thất chắc chừng vài ba chục năm họ mới xuống núi một lần. Họ h́nh như không c̣n thiết tha ǵ với cuộc sống thế trần nầy nữa. V́ lẽ theo quan niệm của những người nhập thất là càng xa nơi ồn ào náo nhiệt nhiều chừng nào tốt chừng ấy!
Ở Tây Tạng cũng như Bhutan, chùa viện là trung tâm sinh hoạt của những quốc gia nầy. Bhutan ảnh hưởng văn hoá của Phật Giáo Tây Tạng. V́ Tây Tạng có thời chiếm cứ Bhutan để làm thuộc địa. V́ vậy Phật Giáo Bhutan cũng gần giống như Phật Giáo Tây Tạng, nghĩa là đa phần dân chúng theo Phật Giáo.
Đến Bhutan để thấy rằng trên từ Vua Chúa, Hoàng Hậu đến Bá Quan Văn Vơ, dưới cho đến thần dân mọi người đều theo Phật và nơi nơi đều thực hiện hạnh từ bi đối với thiên nhiên cũng như muông thú. Họ cũng có hai cơ quan điều hành đất nước. Một là viện của chư Tăng, phần khác do vua các quan nắm giữ.
Ở đây họ cũng ảnh hưởng Ngài Santideva của Ấn Độ không ít. Tương truyền rằng sau khi Ngài Santideva bay qua Tây Tạng để truyền giáo dạy đạo, Ngài cũng dùng thần lực bay qua Bhutan để truyền dạy giáo pháp nhiệm mầu của Phật Giáo nơi đây.
Ở trên một đỉnh đồi thật cao gần thủ đô Thimpu của Bhutan có một hang động và nơi đây mọi người dân cũng như chư Tăng tin rằng sau khi truyền phép mật tông th́ Ngài từ hang động nầy dùng thần lực để thăng thiên và từ đó biệt vô âm tín.
Lịch sử của Ngài Santideva, (dịch là Tịch Thiên) ở Ấn Độ, cũng mang nhiều nét ly kỳ lắm. Tương truyền rằng lúc nhỏ Ngài có một ước mơ là tu theo trí tuệ của Bồ Tát Văn Thù và ước ǵ trong đời, Ngài được gặp Ngài Văn Thù một lần cho thoả chí. Một hôm nằm mộng Ngài thấy một vị Tara đến báo rằng hăy vào rừng th́ sẽ gặp. Ngài Santideva rất hoan hỷ. Khi vào rừng sâu Ngài được gặp Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và được học Pháp Trí Tuệ của Bồ Tát Văn Thù suốt mấy năm như vậy. Sau khi được pháp Trí Tuệ rồi, Ngài được Ngài Văn Thù ban cho một cây kiếm báu bằng gỗ và với nhiều sự gởi gắm giữ ǵn.
Lớn lên Ngài được làm Thừa Tướng hầu cận đức Vua. Một hôm có một vị Đại Thần tâu với vua rằng: Làm Thừa Tướng hầu bên cạnh Vua mà lúc nào cũng mang cây kiếm giả, th́ khi quân giặc đến làm sao có thể chiến đấu để pḥ Vua. Đó là một tội khi quân và đáng trách. Vua nghe tâu như vậy thấy có lư, nên một hôm Vua hỏi Ngài Santideva rằng:
- Tại sao ngươi lại dám khi quân như thế. Trong khi hầu cận ta mà chỉ mang thanh kiếm gỗ?
- Muôn tâu bệ hạ! Hạ Thần không có tội đường đột ấy. Chỉ sợ Thánh Thượng không tin, nên không dám tỏ bày.
- Ngươi hăy chứng minh
- Đây là cây kiếm báu của Đức Văn Thù. Nếu Ngài muốn xem th́ Ngài phải lấy tay bịt con mắt phải lại
- Để làm ǵ?
- Bệ hạ cứ thực hiện như vậy.
Khi lưỡi kiếm vừa rút ra khỏi bao, th́ một tia hào quang sáng chói loà dội ngược vào mắt trái của Vua. Tức thời con mắt nầy tự động rơi xuống đất. Đức Vua rất hối hận mà nói rằng:
- Quả ngươi có lư. C̣n ta có mắt mà cũng như mù
Sau khi nói xong lời hối hận ấy, mắt trái của Vua hoàn lại như cũ và kể từ đó Vua tin tưởng Santideva nhiều hơn. Nhưng sau nhiều năm tháng làm Thừa Tướng với bao nhiêu nỗi nhọc nhằn của nhân thế, nên Ngài đă từ quan và đến Đại Học Na Lan Đà xin xuất gia học Đạo.
Sau khi xuất gia, Ngài vẫn là con người b́nh thường, đôi khi các bạn đồng liêu c̣n cho là biếng nhác nữa. V́ thấy Ngài chẳng siêng năng học hành tu niệm ǵ cả và một hôm Ngài mới bảo các vị đồng tu rằng:
- Quư vị hăy làm cho tôi một pháp toà
- Để làm ǵ?
- Để nói pháp.
Các vị đồng tu đều cười khảy, tỏ ư chẳng tin lời nói của một người biếng lười như thế, nhưng họ vẫn sẵn sàng làm một pháp toà để cho Ngài Santideva thuyết pháp. Thăng toà, Ngài hỏi đại chúng:
- Quư vị muốn tôi nói pháp nào? Pháp quá khứ, pháp hiện tại, hay pháp vị lai.
Ai nghe thấy cũng cười và đồng loạt trả lời trong vẻ khinh bỉ, v́ biết rằng Ngài đâu có khả năng nói pháp. Họ nói:
- Tất cả pháp đều nên nói
Thế là Ngài thao thao bất tuyệt giảng về pháp quá khứ, hiện tại và vị lai không một chỗ vấp nào cả. Sau khi thuyết xong Ngài dùng thần lực bay lên hư không và thế là mọi người tiếc ngẫn ngơ, không ngờ Bồ Tát đang ở trước mặt mà chẳng nh́n ra. Sau đó mọi người về lại pḥng của Ngài th́ thấy trên bàn có để lại ba quyển sách nhan đề là. “Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận, Bồ Tát Hạnh và một quyển thuộc về kinh. Cả ba quyển nầy có tác dụng với Phật Giáo Mật Tông rất nhiều. Đặc biệt là Phât Giáo Tây Tạng, Bhutan và Népal và Mông Cổ.
Nghe qua câu chuyện vừa như thần thoại, vừa như truyền thuyết ấy cả Ngộ Đạo và Ngộ Tánh đều bàng hoàng. Rơ ràng là vẫn có những vị tu chứng đấy chứ! chỉ v́ ḿnh không và chưa có nhân duyên để gặp đấy thôi.
Trong quyển “Đại Đường Tây Vức Kư” Ngài Huyền Trang cũng có ghi lại rằng: Trong núi Hy Mă Lạp Sơn có ngọn núi Everest cao 8.848 thước ấy vẫn c̣n hai hay ba vị tu theo pháp “Diệt Tận Định” có nghĩa là quư Ngài ấy đă toạ Thiền gần hai triệu năm rồi và thân thể vẫn c̣n bất động. Thân thể nầy sẽ được sống dậy với ba điều kiện như sau:
Thứ nhất là nghe tiếng khảy móng tay mà tỉnh dậy. Thứ hai là khi có tiếng chuông đánh gần bên tai và thứ ba là khi ánh sáng mặt trời dọi đến. Các Ngài vẫn c̣n tính nghe và tính biết. Chỉ có cái không ăn uống ǵ cả mà thôi.
Ngài Huyền Trang cũng đă có ghi lại việc nhập diệt của Ngài Ma Ha Ca Diếp gần Bồ Đề Đạo Tràng trên núi Kê Túc như sau:
“Hiện tại Ngài Ca Diếp đang nhập diệt thọ tưởng định và chờ đến