Chương 6. Ngày Hội Ngộ
Sư cụ Từ Tâm càng ngày càng già yếu và cơ thể từ đó càng sa sút thấy rơ. Tuy Sư Cụ không bị bịnh hoạn ǵ; nhưng thân nầy cũng giống như một cành cây. Khi c̣n nhỏ th́ tốt tươi; đơm bông kết trái, dâng hiến vẻ đẹp của ḿnh cho đời thưởng ngoạn và khi về già rồi cây cũng như thân người phải đi vào giai đoạn chót của bốn tiến tŕnh của sanh tử; đó là hoại và diệt. Sư Cụ đă biết chắc điều đó; nên trong những ngày tháng c̣n lại trong đời lúc c̣n mạnh Sư Cụ tŕ Kinh Kim Cang, Đại Bi và cuối đời Sư Cụ càng niệm Phật nhiều hơn, nhất là những lúc đi đứng không được b́nh thường như lúc c̣n trẻ khỏe. Sư Cụ như thế cũng đă tự hoan hỷ với chính ḿnh; nhưng kể từ khi cho hai Thầy Ngộ Đạo và Ngộ Tánh ra đi học đạo ở các nước xa xôi, tính đến nay cũng đă hơn 10 năm rồi; nhưng vẫn chưa về lại quê cũ. Do vậy Sư Cụ viết hai bức thư để lại cho hai người đệ tử xuất gia của ḿnh như sau:
Ngộ Tánh con!
Nay th́ duyên trần thế của ta chắc cũng sắp măn. Ta sẽ tự tại ra đi, về hầu Phật Tổ; nhưng ta biết chắc một điều rằng dẫu con có tận lực bao nhiêu đi chăng nữa th́ cái ái nghiệp vẫn c̣n đeo đuổi theo con một cách dai dẳng. Điều nầy trước khi nhận con làm đệ tử xuất gia, ta đă lưu ư đến và ngay cả trong những khi Thiền định, ta quán sát về năng lực nội tại của con, ta thấy con c̣n phải phấn đấu nhiều hơn nữa mới được. Nếu không th́ khó tránh khỏi những việc không lành có thể lụy đến thân về sau nầy. Đó là điều chính con và nhất là ta sẽ không bao giờ muốn như thế cả; nhưng như con biết đó, nghiệp lực của mỗi người, chính mỗi chúng ta mới có thể tự chuyển cho chúng ta mà thôi; chư Phật hay các vị Bồ Tát cũng chỉ có thể chỉ phương pháp cho chúng ta ra khỏi nghiệp khổ ấy, chứ các Ngài sẽ không gánh thế tội lỗi của chúng sanh được. Con hăy nhớ rơ điều nầy mà ráng tự nhắc nhở thân tâm ḿnh, lúc c̣n ở trong cửa chùa hay hiện thân ở bất cứ h́nh thức nào đi chăng nữa.
Tuy ở bất cứ một cơi xa xăm nào đó, ta vẫn dơi mắt theo con để hổ trợ con trong những lúc không làm chủ được chính ḿnh.
Thầy.
Bức thứ hai dày hơn và dung chứa nội dung rất chi ly về nhiều vấn đề và Sư Cụ đă viết từ trước trong khi chờ đợi Ngộ Đạo về với nội dung như sau:
Ngộ Đạo con!
Như mới ngày nào con vẫn c̣n là đứa con rơi trước cửa Phật, với người mẹ đau khổ ấy chắc bà ta vẫn c̣n đau khổ trong cái nổi mất con; nhưng bà ta sẽ vui khi thấy ngày nay con đă nên người. V́ con nay đă ba mươi tuổi rồi chứ c̣n nhỏ nhoi ǵ nữa. Cái tuổi mà ở đời tất cả phải tự lập thân để sống và ta hy vọng rằng có một ngày nào đó cha mẹ con sẽ có cơ hội để gặp lại con.
Phần ta th́ duyên trần sắp măn. V́ ta biết rằng mọi pháp trong thế gian nầy đều do sự giả hợp mà thành tựu; do vậy chắc chắn phải có ngày tan ră. Điều nầy cũng giống như ta và con vậy. Nhân duyên ta gặp con và con đă trưởng thành dưới mái chùa Hưng Phước nầy hai mươi năm và mười năm lưu học tại xứ người, chắc hẳn rằng con đă hiểu được lẽ sắc không và sự vô thường của nhân thế. Chắc chắn không có một vật ǵ tồn tại măi măi mà không bị biến đổi bởi thời gian và năm tháng, ngoại trừ cái chơn thân; nhưng chúng ta vốn sống trong cuộc sống hữu hạn nầy, phàm có ngày đến th́ phải có ngày đi thôi. Đó là một định luật. Ví như con chim non khi sanh ra phải tập bay nhảy múa hót và t́m mồi để muôi thân. Chúng hót vào mỗi sớm mai khi mặt trời gần ló dạng như để chào đón một buổi b́nh minh rạng rỡ và một ngày huy hoàng trong kiếp sống của chúng. Khi nó hót, nó chẳng biết là năm nào tháng nào ngày nào phải nghỉ hót chăng? Nhưng một sự tự nhiên không ai bảo mà chúng phải tự làm nhiệm vụ ấy. Rồi một ngày nào đó nó không hót nữa có những con chim khác hót thay thế; chứ đâu phải v́ chim không hót mà vũ trụ nầy không c̣n đâu?
Cũng có những động vật khác như chó mèo th́ hay sủa, kêu vào buổi tối. Không như con gà gáy vào buổi sáng. V́ mỗi con thể hiện một nhiệm vụ và một đặc tính khác nhau. Đó là đặc tính của mỗi loài vậy. Dưới cái nh́n của Đức Phật và chư vị Bồ Tát loài chúng sanh nào cũng có Phật tính cả; nhưng biết bao giờ cái Phật tính ấy mới hiển lộ nơi loài côn trùng và những động vật bé nhỏ ấy; nhưng hy vọng sẽ có một ngày.
Ta cũng chỉ là một chúng sanh như bao nhiêu chúng sanh khác, có đến đi c̣n mất. Do vậy trước khi ta về với thế giới của chư Phật, ta có thư nầy để căn dặn con là ngôi Tổ nghiệp Sắc Tứ Hưng Phước Tự nầy con sẽ giữ quyền trụ tŕ. C̣n Sư Huynh của con trong thời gian tới chắc chắn c̣n phải đối đầu với nhiều việc khác nữa về các phương diện thanh danh, tiền bạc, sắc đẹp, quyền thế v.v.. tất cả những thứ ấy ta cũng đă trải qua và ta xem như đôi dép bỏ. Giờ đây và mai sau sẽ c̣n có nhiều người, trong đó cũng có con nữa. Nếu con quan niệm rằng tất cả là phương tiện để độ sanh th́ con sẽ vượt qua dễ dàng. Nếu con vẫn bị nó sai sử và ch́m đắm nơi ngũ dục th́ suốt đời cũng chỉ làm nô lệ cho chúng mà thôi. Trong thời gian hai con đi lưu học th́ hai vị Tịnh Hạnh Nhơn đă lần lượt quy Phật rồi. Sau khi ta đi, con nên chọn người khác để hỗ trợ việc chùa. V́ muốn cho Thiền môn hưng thịnh cả Tăng Ni và Tín đồ phải gánh vác cho cân xứng cả hai vai ngôi chùa mới đứng vững trong ḷng người Phật Tử được. Như thế mới xứng danh là: Thế gian trụ tŕ Tam Bảo. Nếu không phải vậy ta chắc không an lạc ở cơi khác đâu.
Thân tứ đại vốn do giả hợp mà thành. Do vậy không có ǵ luyến tiếc cả. Sau khi thiêu, xác thân Thầy một phần đem rải xuống dưới gịng suối mà ngày xưa con đă v́ thú vui của tuổi trẻ đă hành hạ những con vật ấy; để cho cát bụi trả về lại với cát bụi. Phần khác nếu các con muốn nhập tháp để thờ ta cũng tùy hỷ thôi, không có ǵ trở ngại cả.
Một điều vô cùng quan trọng nằm trong gói đỏ gói trong lá thư nầy, con chỉ được mở ra khi mọi việc đều bế tắc, con không thể tự giải quyết một ḿnh được. Con hăy nhớ kỹ điều nầy.
Tài sản của cải vốn là vật vô tri và tất cả đều là của tín thí, ta hăy xử dụng cho nó đúng mục đích làm lợi sanh th́ người cúng vào họ cũng hoan hỷ. Không v́ t́nh riêng mà xâm phạm đến của thập phương bá tánh. Điều ấy chính giới luật cũng không cho phép, mà ta cũng đă chẳng vui ḷng.
Người xưa thường nói: “khi nào nắp quan tài đậy lại“ th́ mới biết rằng ta có tu trọn kiếp được hay không? Do vậy con hăy canh cánh bên ḷng với câu Phật hiệu để có thể trợ duyên cho con trên mọi nẽo đường đời.
Ta mong rằng hai con, nhất là con sẽ không phụ lời căn dặn sau cùng của ta là: „Phụng sự chúng sanh tức là cúng dường Chư Phật“
Thầy.
Cả ba người cùng bước hối hả vào chùa th́ thấy khung cảnh thật náo nhiệt và gần như hổn loạn. V́ kẻ đứng người ngồi, kẻ khóc, người lau nước mắt. Có những thanh niên trai tráng lo làm rạp chẻ tre v.v... Nh́n tận vào trong chánh điện đèn đuốc sáng trưng cũng như bóng dáng Tăng Ni đông hơn thường lệ. Họ vào bên trong bàn Tổ th́ thấy nơi đây đă thiết trí một quan tài. Họ quỳ xuống lạy ba lạy, rồi vội chạy về Phương Trượng Đường. Nơi đây mọi người đang chí tâm tụng câu: „Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật“ thật là bi hùng và câu Phật hiệu càng cao dần cao dần với số lượng chư Tăng Ni cũng như Phật Tử càng đông khi đồng hộ niệm. Ngộ Đạo và Ngộ Tánh cũng như Vạn Tâm đă đến sát bên giường của Sư Cụ Từ Tâm đảnh lễ ba lạy và không nói được một lời nào. V́ quá xúc động. Sau khi biết rằng hai đệ tử xuất gia của ḿnh đă về lại rồi, lúc bấy giờ Sư Cụ mới từ từ và gượng sức ḿnh để mở mắt ra và hai tay đưa lên ngực chắp lại h́nh đóa sen, đoạn Sư Cụ buông xuống thật mạnh rồi thở một hơi thật dài và nhắm mắt lại một cách an lành.
Tất cả mọi người Tăng cũng như tục biết rằng giờ ấy phải đến và mọi người tự lo nhiệm vụ của ḿnh như đă được cắt đặt trước đó trong ban tang lễ. C̣n Ngộ Đạo và Ngộ Tánh trở lại pḥng xưa cùng với Vạn Tâm đi sau, mang dùm hai túi xách đă nặng gánh phong sương trong suốt mười năm trường mà cả hai bên đây là lần đâu tiên gặp mặt trở lại. Họ vừa vui vừa buồn. Vui v́ được gặp lại bạn xưa và buồn v́ kể từ giờ phút nầy h́nh ảnh của một vị quan văn đă giũ áo từ quan, nương náu nơi cửa Phật, bây giờ không c̣n nữa. Họ như đàn chim tuy đă gặp lại nhau; nhưng chim mẹ đă không c̣n nữa.
Sau khi xem thơ di chúc của Sư Cụ Từ Tâm để lại, cả hai Thầy mắt đều đỏ hoe, không phải chỉ v́ khóc thương kính Sư Cụ mà c̣n nghĩ đến hoàn cảnh của ḿnh phải đối đầu với mọi công việc khó khăn trong những ngày tháng sắp tới. Họ vội vă bước đi về chốn Tổ Đường.
Nơi đây chư Tôn Đức Tăng Ni kẻ tụng kinh A Di Đà, người niệm Phật. Kẻ lo phận sự của ḿnh trong vấn đề trần thiết cho buổi lễ nhập liệm và các lễ lạc khác trong ṿng một tuần lễ mà Kim Quan của Sư Cụ được thiết trí tại đây. Không khí như một ngày hội lớn không hơn không kém. Chương tŕnh mỗi ngày đều có tụng kinh lễ bái, cúng trà tiến giác linh, cúng ngọ và lễ viếng v.v..
Những ngày ấy tuy nhộn nhịp; nhưng Ngộ Đạo và Ngộ Tánh vẫn an tọa hoặc đứng hầu gần bên kim quan của Sư Cụ Ḥa Thượng. Ngài vừa là bậc quan văn của triều đ́nh, vừa là một bậc Trưởng Lăo của Thiền Môn. Do vậy mà các quan lớn trong triều cho đến các vị từ nhất phẩm cho đến cửu phẩm đều có mặt. Ngoài ra chư Tôn Thiền Đức trong chốn kinh kỳ đă không vắng mặt một vị nào. Chỉ trừ một số vị quan trọng sẽ đến vào giờ chót khi cung tống kim quan để làm lễ trà t́ và sau đó lễ nhập bảo tháp mới có sự hiện diện của những vị quan trọng nầy.
Cũng có một số vị Tăng Ni đến trước kim quan lạy xong ba lạy rồi qua một bên ngồi Thiền, chứ không tŕ tụng các kinh bộ như những vị khác và chính lúc ấy Ngộ Đạo và Ngộ Tánh có thời gian nghĩ ngược chiều về chuyến đi tham bái học đạo trong thời gian mười năm qua, cũng như hai bức thư mà Sư Cụ đă dặn ḍ cho hai huynh đệ.
Ngộ Đạo thấy bài “Tọa Thiền Ḥa Tán“ của Ngài Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin) Thiền Sư của Nhựt Bản nghe ra rất thấm thía trong lúc nầy; nên thầm đọc trong miệng rằng:
“Chúng sanh bổn lai đă là Phật
Nước và băng đều giống nhau
Ĺa nước th́ không có băng
Ngoài chúng sanh không có Phật
Nơi gần nhưng chúng sanh không biết
Chỉ lo t́m cầu ở nơi xa
Giống như ở trong nước
Mà là bị khát
Con của nhà giàu
Mà mê vào chỗ nghèo chẳng khác
Là nguyên nhân của lục thú (đạo) luân hồi
Ta đă ngu si vào con đường tối
Đường tối tiếp theo đường tối
Đến khi nào th́ xa được sanh tử
Nếu Thiền Định theo Đại Thừa
Mà c̣n xưng tán nữa
Bố thí tŕ giới Ba La Mật
Niệm Phật sám hối tu hành v.v..
Với những việc làm lành kia
Tất cả đều trở về
Công phu ngồi ấy thành một người
Nếu có tích chứa vô lượng tội
Rơi vào đường ác thú
Th́ Tịnh Độ cũng chẳng xa
Chịu khó nơi pháp
Khi nghe lọt vào tai
Có người tán thán tùy hỉ
Chẳng có giới hạn nơi công đức
Huống nữa là tự ḿnh hồi hướng
Ngay nơi tự tánh được chứng biết
Tự tánh ấy tức vô tánh
Việc ấy rời hí luận
Nhân quả nhứt như đă mở cửa
Chẳng hai chẳng ba mà thẳng lối
Tướng của vô tướng là tướng
Đến đi đều chẳng có
Niệm cái vô niệm gọi là niệm
Múa và hát là tiếng của pháp
Cái không của tam muội vô ngại rộng mở
Mặt trăng của Tứ Trí viên minh sáng tỏ
Lúc ấy đâu có cần t́m cầu
Đó là tịch diệt cho nên
Chính nơi đó là nước liên hoa
Thân nầy chính là Phật.“
Chừng ấy lời lẽ, chừng ấy tư tưởng, chừng ấy ư chí cũng đủ nói lên được cái thoát tục, cái chứng đạo của Ngài Bạch Ẩn rồi. V́ Ngài quan niệm theo tinh thần của Đại Thừa Khởi Tín Luận và Đại Trí Độ Luận rằng: chúng sanh vốn xưa nay đă giác ngộ rồi (bản giác); nhưng v́ quên đi lối về (bất giác) và từ đó bắt đầu trôi giạt trong sanh tử (thỉ giác). Tuy biết đó; nhưng đă lỡ lầm gây tội rồi, bây giờ chỉ cần quay đầu lại thôi; nhưng đâu có đơn giản.
Họ nh́n lên những tấm trướng treo hai bên tường có tấm được dệt bốn chữ đại tự là: „Khứ Lai Tự Tại“ quả là đúng ư của Sư Cụ Từ Tâm. V́ việc đến của Ngài trong thế giới nầy hay việc đi của Ngài khỏi thế gian nầy không có ǵ bị ràng buộc hết, nên gọi là tự tại, mà tự tại thật, kể từ khi các chú vào chùa từ nhỏ, đặc biệt là Ngộ Đạo, cho đến nay đă 30 năm rồi; nhưng đâu có khi nào Sư Cụ nặng lời với chú đâu. Nếu muốn phạt th́ Ngài dùng thân giáo, khẩu giáo và ư giáo để dạy bảo. Giống như bài học đầu đời của Ngộ Đạo khi xuống suối bắt cá vậy. Rồi lớn lên không biết bao nhiêu là chuyện lụy phiền của nhân thế cũng như việc học hỏi tu niệm; nhưng nhứt nhứt Ngài đều đă dạy rơ. Ngồi đây hồi tưởng lại chuyện xưa mà cảm thấy thấm thía làm sao.
Thoang thoảng bên tai của hai người, đâu đó tiếng Kinh Kim Cang trầm hùng bay bổng như từ không trung bay đến làm họ cảm thấy lời và ư Kinh thấm vào trong từng thớ thịt.
„...... Phật cáo Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm. Sở hữu nhứt thiết chúng sanh chi loại. Nhược noăn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng, nhược phi vô tưởng, ngă giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn, nhi diệt độ chi, như thị diệt độ, vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ, hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ Tát...”
Khi nghe qua như vậy cả hai đều sáng ra. Rơ ràng là đă có vô lượng vô số chúng sanh, Đức Phật đă làm cho họ vào cảnh Vô Dư Niết Bàn; nhưng thật sự ra chẳng có một chúng sanh nào diệt độ cả. V́ sao vậy? – Nếu Bồ Tát mà c̣n tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ Tát. Như thế không thể hàng phục tâm nầy được. Rơ ràng là nếu Bồ Tát c̣n chấp nơi tướng không c̣n gọi là Bồ Tát nữa. Vậy một vị Bồ Tát phải đứng trên sanh tử để ra vào tự tại chứ không thể đứng trong sanh tử để cho sanh tử chuyển xoay ḿnh được.
Tiếp đến đoạn: „... Phật cáo Tu Bồ Đề! Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai...“ Đoạn nầy cũng quá hay và quá súc tích. Phật đă dạy cho Ngài Tu Bồ Đề cũng là gián tiếp dạy cho hai Thầy cùng với mọi người đến đưa đám của Sư Cụ rằng: „Cái ǵ có h́nh tướng th́ cái đó đều hư vọng; nếu thấy các tướng mà không phải tướng mới thấy được Như Lai.“ Tất cả mọi vật có h́nh tướng như cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái lâu đài, cung điện, ngai vàng và ngay cả cái thân nầy đều do các hợp tướng hợp lại, mà đă do hợp tướng tạo thành, tức nó không là thật. Đó chỉ là đồ giả mà thôi; thế mà lâu nay đa phần ta nghĩ là có thật. Chỉ có con mắt của những người giác ngộ mới nhận chân được thật tướng của các pháp không thật lúc ấy mới thấy được chơn như. Ấy là Như Lai Tạng hay Phật tánh đâu có ở ngoài, ở trong mà ta vẫn măi dong rũi t́m cầu để đến khi quay lại nhận được tự tánh của ḿnh th́ lúc ấy mới thật biết rằng chơn như vốn không đến không đi, không c̣n, không mất.
Dưới cái nh́n của thế gian th́ thấy Sư Cụ Từ Tâm có ra đi. V́ vậy cho nên đă có không biết bao nhiêu người buồn. C̣n ḿnh th́ sao đây? Họ vừa buồn vừa hiểu mọi việc rơ như ban ngày; nhưng trong hiện tại họ khó làm chủ nổi chính ḿnh. Phải cầu vào tha lực của Đức Phật A Di Đà, nên họ măi niệm Phật để cho những tư tưởng khác khỏi xen tạp vào với lời Kinh từ trên vọng lại.
„... chư Bồ Tát Ma Ha Tát, ưng như thị sanh thanh t́nh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm...“
Đoạn nầy là đoạn rất quan trọng mà Ngài Lục Tổ Huệ Năng đă ngộ được đạo và các vị Tổ khác cũng đă lần lượt ngộ cái cốt tủy của đoạn Kinh nầy. Kinh Kim Cang có 32 đoạn và đây thuộc đoạn thứ 10. Các Bồ Tát nên như thế nầy mà sanh tâm thanh tịnh. Đó là chẳng nên trụ vào sắc để sanh tâm, chẳng nên trụ vào thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà nên sanh tâm nầy ở chỗ không trụ...“ chỗ không trụ là chỗ nào thế? Đó là chỗ không chấp vào cái nầy bỏ cái kia. Chấp có chấp không, chấp c̣n, chấp mất; chấp vào sự hiện hữu của h́nh tướng, sự mất đi của thế giới v.v... tất cả đều bị cái chấp và lấy cái ngă của ḿnh làm chủ nên mới sinh ra như vậy. Nếu Bồ Tát sanh cái tâm không chỗ sanh th́ Bồ Tát chẳng trụ vào đâu để mà đến đi c̣n mất cả. Đó mới chính là thực tướng của Bồ Tát.
Khi nghe đến đoạn „... Sở dĩ giả hà? Ngă tướng tức thị phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức thị phi tướng. Hà dĩ cố? Ly nhứt thiết chư tướng tức danh chư Phật...“ Đúng đây là chỗ khúc mắc mà một hành giả đi vào đời phải rơ biết. Tướng của ta hay tướng thuộc về ta đều chẳng phải là tướng, tướng của người, tướng của chúng sanh, tướng thọ giả cũng chẳng phải là tướng. V́ sao vậy? V́ ĺa tất cả tướng ấy mới gọi là Chư Phật. Vậy Chư Phật là những vị đă ĺa khỏi sanh tử, ĺa khỏi chấp trước. C̣n chúng ta th́ hoàn toàn ngược lại. Do vậy chúng ta vẫn c̣n là chúng sanh, chứ chưa được gọi là Phật. Mặc dầu trong ta đă có Phật tánh sẵn rồi; nhưng chúng ta chưa nhận ra cái sự thật ấy mà thôi. Sự thật ấy như Ngài Bạch Ẩn đă nói trong “Tọa Thiền Ḥa Tán“ là: “Nước và băng đều giống nhau và ĺa nước không có băng“. Vậy th́ băng từ nước mà có. Giữa nước và băng giống nhau một tánh. Đó là tánh ướt, mà tánh nầy là tánh Phật, giữa Phật và chúng sanh đều có; nhưng Phật đă thành Phật. C̣n chúng sanh vẫn là chúng sanh. V́ chúng ta chưa nhận chân được vị Phật chân chánh của mỗi chúng ta tự có nơi mỗi người.
„... Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát thông đạt vô ngă pháp giả, Như Lai thuyết danh chơn thị Bồ Tát...“
Nếu là Bồ Tát th́ phải thông đạt pháp vô ngă. Cho nên Đức Như Lai nói đó mới chính là Bồ Tát. Bồ Tát nghĩa là vị đă v́ sự lợi lạc của chúng sanh mà vào đời để độ sanh; nhưng không v́ thế mà bị đời làm lay chuyển. Trong khi độ sanh đó, thấy ḿnh chẳng phải là người đi độ và chẳng thấy kẻ được độ, đó mới chính là sự độ sanh đúng nghĩa. V́ Bồ Tát khi độ như thế không đứng trên quan điểm hữu ngă, mà tất cả chỉ là tinh thần vô ngă. Khi Bồ Tát đă hiểu như thế rồi mới được Chư Phật thừa nhận là một vị Bồ Tát chơn thật.
„... Sở dĩ giả hà? Tu Bồ Đề! Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc...“
V́ Phật nói rằng tất cả tâm chẳng phải là tâm th́ đó mới gọi là tâm, mà cái tâm ấy trong quá khứ ta đă chẳng dừng nghỉ, hiện tại tâm ấy cũng chẳng được. C̣n vị lai thay đổi trong từng sát na sanh diệt, vậy th́ cái ǵ gọi là tâm? Sở dĩ gọi là tâm, ấy chẳng qua là phương tiện nhắm đến cái trạng thái không thấy và không nắm bắt sờ mó được; nhưng dùng h́nh ảnh để ví dụ th́ khó có cái trừu tượng; do vậy phải dùng phương pháp duyên khởi và vô tướng để ví dụ cho dễ hiểu vậy.
Ở đoạn thứ 26 có bài kệ mà hai Thầy đă nghe là:
“Nhược dĩ sắc kiến ngă
Dĩ âm thanh cầu ngă
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.“
Rơ ràng là:
“Ai dùng sắc để thấy ta
Dùng âm thanh để cầu ta
Kẻ ấy hành việc tà
Chẳng thể thấy Như Lai.“
Vậy muốn thấy được chân thật tướng của Như Lai phải vượt lên trên tất cả h́nh tướng, âm thanh, đối đăi v.v... nếu vin vào một cái ǵ đó th́ chắc rằng hỏng hết đại sự rồi.
„... Hà dĩ cố? Nhược thế giới thật hữu giả tức thị nhứt hợp tướng. Như Lai thuyết nhứt hợp tướng tức phi nhứt hợp tướng, thị danh nhứt hợp tướng.“
Đoạn nầy ư nói:... v́ sao vậy? Nếu thế giới là thật có, tức là một hợp tướng. Đây có tên là một hợp tướng“. Như vậy th́ ngay cả thế giới nầy nào sơn hà đại địa, con người, loài vật, cây cỏ và không những chỉ ở đây mà c̣n trong 3.000 thế giới lớn nhỏ khác nữa tuy có đó; nhưng thật tế là không có. V́ sao vậy? V́ nó là một hợp tướng. Nói như trong Luận A Tỳ Đàm, Phật đă chỉ rơ về sự thành tựu của thế giới nầy và dẫu cho vũ trụ có bao la, thời gian có vô cùng đi chăng nữa tất cả cũng chỉ là một hợp tướng mà thôi. Hợp tướng ấy do đất, nước, gió, lửa tụ lại thành. Nếu v́ một nhân duyên nào đó, hợp tướng kia sẽ tan ră. Do vậy mà không có ǵ chắc thật cả. Ngay cả thân tứ đại nầy cũng thế thôi. Hôm nay Ngài c̣n nằm đây để nghe người ta đến cầu nguyện và chúc tụng; nhưng ngày mai ngày mốt đây khi ngọn lửa hồng đến th́ thân nầy cũng chẳng c̣n ǵ. Rơ ràng là một hợp tướng. Do vậy mà Đức Phật dạy rằng cái hợp tướng ấy chẳng phải là một hợp tướng. Thế nên có tên là một hợp tướng. V́ hợp tướng ấy không thật. Cũng giống như thân người, thân muôn vật vậy. V́ c̣n trong ṿng đối đăi cho nên ta thấy tốt xấu, trẻ già; nhưng nếu chúng ta quán triệt được lẽ vô thường của kiếp nhân sinh và cái hợp tướng không thật đó, ta sẽ hiểu được tự tánh của chính ḿnh.
Đoạn cuối cùng của Kinh Kim Cang có bốn câu rất là siêu việt mà ai trong chúng ta khi nghe qua cũng phải thức tỉnh một cách nhanh chóng để trở về với thực tại.
Kinh rằng:
“Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ưng tác như thị quán“
Nghĩa là:
“Nên quán như thế nầy
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng và như huyễn
Như sương lại như điện“
Hiểu được như thế là rơ biết nội dung của Kinh Kim Cang Phật muốn dạy điều ǵ cho chúng ta. V́ chúng ta biết rằng phàm cái ǵ có h́nh tướng, tức là các pháp hữu vi. Nó giống như mộng huyễn và ảo ảnh. Tuy có đó; nhưng trên thực tế là không. V́ lẽ thực tướng của vạn pháp là không. Cái không ấy cũng giống như sương mai trên đầu ngọn cỏ. Có đó rồi mất đó, đẹp như hạt ngọc đó; nhưng khi ánh Thái dương ló dạng nó lại tan đi. Thân nầy cũng giống như gịng điện vậy. Hợp th́ tạo thành ánh sáng, âm thanh. Không hợp th́ không tạo thành h́nh tướng. Chỉ đơn giản thế và thực tướng nó là không. Nhưng nào ai có thể rơ biết được? Nếu quán được như vậy và đem sự hiểu biết nầy để đi truyền dạy cho người khác cùng biết th́ công đức nầy lớn hơn công đức đem vàng bạc của báu và ngay cả thân mạng nầy đi bố thí suốt năm tháng ngày giờ cũng không sánh được với kia một trăm, ngàn, vạn ức lần. Do vậy mà việc tŕ Kinh, hiểu Kinh rồi biên chép, giải nói cho người khác cùng hiểu để được giải thoát và trở về lại với cái ta chân thật của ḿnh. Đó mới chính lá cách tu học đúng đắn nhất của người Phật Tử.
Sau khi nghe nội dung của Kinh Kim Cang xong, có lẽ do chư Thiên hay chư vị Bồ Tát đọc, cả hai người đều cảm nhận được; nhưng rất nhanh; thời gian có thể chỉ trong sát na mà xem ra dài lâu lắm. Ngộ Đạo nh́n lên bàn thờ của Sư Cụ thấy một tuần nhang đă măn. Có nghĩa là ít nhất cũng đă hơn một tiếng đồng hồ rồi và trong một tiếng đồng hồ đó có biết bao nhiêu là người qua lại cũng như đối mặt với hai Thầy. V́ lâu nay họ cũng muốn biết công phu tu niệm của hai Thầy ra sao và rồi đây một trong hai Thầy sẽ là kế vị trụ tŕ của ngôi Sắc Tứ Hưng Phước Tự nầy.
Ba cánh cửa Tam quan đều được mở rộng để cung nghinh chư Tôn Đức Tăng Già và đặc biệt hôm nay có đương kim Thánh Thượng sẽ giáng lâm cùng với các quan văn vơ của triều đ́nh để tham dự lễ Hỏa Thiêu của Sư Cụ Từ Tâm và sắc phong đạo hiệu. Do vậy mà ai cũng tỏ ra cái ǵ cũng nghiêm trọng và lo lắng. Nhất là những quan tuần canh quanh chùa. Họ chỉ muốn làm tṛn bổn phận của họ; nhưng họ cũng không tha thứ cho ai hết; nếu có việc ǵ bất trắc xảy ra. Họ biết họ phải làm ǵ?
Một đoàn ngự giá nào xe nào ngựa, nào quan quân, cờ lọng rợp cả một vùng núi non của Hưng Phước Tự hôm ấy. Từ xa xa đă nghe những tiếng hô vang dội: Thánh Thượng vạn tuế vạn vạn tuế. Thế là chữ tuế nầy kế tiếp chữ tuế kia vang dội măi cho đến cổng chùa. Nơi nào nhà Vua đi qua th́ bàng dân thiên hạ đều quỳ mọp xuống. Chỉ trừ những người xuất gia là không thực hiện nghi lễ ấy mà thôi. Ḿnh và đầu của họ hơi cúi xuống để chào một vị “Dân chi phụ mẫu“ rồi ngẩng lên nh́n.
Đến cổng Tam quan nhà Vua xuống ngựa và đi bộ ngay vào chánh điện lễ Phật và sau đó vào Tổ Đường để thăm viếng Kim Quan của Ḥa Thượng Từ Tâm. Nhà Vua đứng lặng yên chẳng nói lời nào và Vua ra hiệu cho bộ lễ mang lễ vật ra để phúng điếu. Sau đó một vị quan văn mở phong hàm ra và quỳ xuống trước bàn thờ Tổ trịnh trọng đọc.
Đại Nam quốc Đương Triều Hoàng Đế sắc phong Đạo hiệu: “Từ Lâm Tế Chánh Tông Tam thập bát thế húy thượng Từ hạ Tâm tự Giác Ngộ hiệu Hưng Quốc Quốc Sư Ḥa Thượng tọa hạ liên ṭa.“ Đoạn trao giấy sắc phong ấy cho Thầy Ngộ Đạo và hai vị cúi đầu thi lễ Đức Vua cũng như Hoàng Hậu và bá quan văn vơ triều đ́nh. Cũng chính hôm nay Công nương Mỹ Lệ con quan Tể Tướng của Triều Đ́nh cũng có mặt. Nàng nh́n chăm chăm về phía trước và hiểu ra rằng Ngộ Đạo sẽ là vị trụ tŕ kế nhiệm tương lai, thế là trong dạ nàng mừng thầm. C̣n Ngộ Tánh như đờ người ra v́ đă xa h́nh bóng cũ hơn mười năm rồi mà trông nàng vẫn c̣n xinh đẹp như xưa. Quả là trái đất vẫn tṛn. Nhưng hội ngộ trong khung cảnh tang tóc như thế nầy th́ quả rằng khó nói lắm.
Sau khi đi chùa về cách đây mười năm về trước nàng cảm nặng. Đó là cảm t́nh chứ không phải là cảm nắng hay sương như cha mẹ nàng nghĩ. Thế rồi mọi việc cũng đă qua; nhưng hôm nay trong sự cố t́nh nàng Mỹ Lệ muốn đi đưa tiển Kim Quan của Sư Cụ Từ Tâm; nhưng trên thực tế nàng muốn gặp mặt người ḿnh thương, đó là Thầy Ngộ Đạo. Qua sự khuyên giải của mẹ cha rồi nàng cũng nguôi đi; nhưng bây giờ gặp lại người xưa mặt đối mặt th́ bao nhiêu nổi tơ ṿ lại xốn xang trong ḷng nàng, chẳng biết diễn tả như thế nào trong bối cảnh nầy nữa. Một nhịp đập khác của con tim bị rối loạn. Đó chính là của Ngộ Tánh. Mặc dầu Ngộ Tánh cũng đă nghe Tứ Thiên Vương tŕ Kinh Kim Cang xong; nhưng bây giờ những câu Kinh ấy đă bay bổng đi đâu hết rồi. Trong khi đó, Ngộ Đạo nét mặt vẫn điềm nhiên và Thầy quán lại bốn câu kệ rằng:
“Nhược dĩ sắc kiến ngă
Dĩ âm thanh cầu ngă
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.“
Và “Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.“ Chỉ chừng ấy thôi cũng đă làm cho Ngộ Đạo rơ được lư vô thường rồi và cũng làm cho Thầy an tâm để ǵn giữ Như Lai chơn thật tướng của ḿnh. Trong khi đó, nếu lúc ấy có ai nh́n trộm được mặt của Tiểu Thơ th́ chắc rằng cũng đă thấy được những cử chỉ vụng về của Tiểu Thơ lúc ấy.
Từ xa xa cách chỗ Kim Quan của Sư Cụ có một người đàn bà mang dáng dấp là một mệnh phụ phu nhân, trông rất đài các và đứng đắn, trạc tuổi chừng năm mươi thỉnh thoảng lại đưa mắt nh́n Ngộ Đạo với một cái nh́n đặc biệt; nữa như van xin nài nỉ, nữa như muốn nói một điều ǵ đó mà chẳng phát biểu được trong lúc này. Rồi lại thôi không nh́n nữa; nhưng thỉnh thoảng người đàn bà ấy vẫn có một cái nh́n thật là thiện cảm. Không phải là cái nh́n b́nh thường mà trong cái nh́n ấy c̣n ẩn chứa một cái ǵ đó nữa.
Thế rồi giờ di quan đă đến và chiếc Kim Quan từ từ được di chuyển ra giàn hỏa thiêu nhân tạo gần đó. Trong khi chư Tăng tụng sám Khể Thủ Ngộ Đạo và Ngộ Tánh cố nhặt những viên Xá Lợi óng ánh của Sư Cụ cho vào lọ sành mang qua bảo tháp Vạn Thọ để nhập tháp. Văng vẳng đâu đây bên tai hai Thầy những câu tụng giọng trầm bổng của chư Tăng như sau:
“... Ngă cập chúng sanh, khoáng kiếp chí kim, mê bổn tịnh tâm, túng tham sân si, nhiễm uế tam nghiệp, vô lượng vô biên, sở kết tội cấu, vô lượng vô biên, sở kết oan nghiệp, nguyện tất tiêu diệt, tùng ư kim nhật, lập thâm thệ nguyện, viễn ly ác pháp, thề bất cánh tạo, cần tu thánh đạo, thệ bất thối đọa, thệ thành chánh giác, thệ độ chúng sanh...“ cốc, cốc,cốc, boong... cứ theo từng nhịp mơ lời Kinh như thế bài sám Khể Thủ như là bài sám cho chính ḿnh, cho hai người đệ tử của Sư Cụ Từ Tâm. Bởi chính v́ ḿnh từ trong vô lượng kiếp đến nay cái gốc của mê mờ nằm nơi tâm thanh tịnh nầy là do tham sân si làm cho ba nghiệp nhiễm lây. Rồi không biết bao nhiêu là việc làm tội lỗi, cũng chẳng có không biết bao nhiêu là oan khiên nghiệp chướng trong bao nhiêu đời trói buộc vào nhau... con nguyện được tiêu hết và bắt đầu từ ngày hôm nay con với thân nầy tự nguyện rằng: xa ĺa t̐