Cầu mong các con có đủ dũng mănh để đi bằng đôi chân của
ḿnh, nh́n bằng đôi mắt của ḿnh; tự xác định hướng đi cho
chính ḿnh. Thầy sẽ là người bạn đồng hành với các con trên
đoạn đường bóng xế của đời ḿnh.” Đó là câu kết luận trong lá thư Thượng Tọa
Tuệ Sỹ gởi các tăng sinh Huế.
Mặc dù thầy viết riêng cho các tăng sĩ trẻ c̣n đang tu học
trong nước, lá thư đă làm xúc động hàng triệu trái tim người
con Phật ở mọi nơi, mọi giới, trong đó có tôi. Không một
người Phật Tử nào, đọc xong những lời nhắn nhủ thiết tha như
những lời trối trăn thống thiết của Thượng Tọa Tuệ Sỹ mà
không cảm thấy xót xa thương mến. Xót xa thương mến thầy,
xót xa thương mến cho số phận của Dân Tộc và Đạo Pháp. Vẫn
biết rằng mai đây “ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục
nát” như thi hào Vũ Hoàng Chương đă viết trong Lửa Từ Bi,
nhưng tôi tin, những lời nhắn nhủ từ trái tim của một bậc
thầy đáng kính sẽ măi măi như gịng suối Từ, dài vô tận,
rộng bao la, đă chảy qua hai ngàn năm lịch sử và sẽ chảy qua
nhiều thế hệ Phật Tử Việt Nam. Cũng bên ḍng suối Từ ngọt
ngào đó, chúng tôi, những đoàn viên Gia Đ́nh Phật Tử Việt
Nam, đă gặp nhau, đă chia nhau từng ngụm nước trong lành của
t́nh thương và trí tuệ. Và v́ thế, những cảm nhận được ghi
lại ở đây, là những cảm nhận của một đoàn viên Gia Đ́nh Phật
Tử Việt Nam.
Tôi đến với đạo Phật từ năm bảy tuổi qua ngưỡng cửa của Gia
Đ́nh Phật Tử. Tôi đến với đạo Phật không phải v́ đặc tính
huyền bí linh thiêng tôn giáo nhưng đơn giản v́ đạo Phật đem
lại cho tôi những món ăn tinh thần mà tôi cần từ thuở chào
đời: t́nh thương và ḷng tha thứ. Tôi kính yêu Đức Phật bởi
v́ ngài bắt đầu hành tŕnh giải thoát như một con người.
Ngài đă từ chối cuộc sống cao sang, để lại sau lưng cung
vàng điện ngọc, mang chiếc b́nh bát đựng đầy ắp t́nh thương
đi vào thế giới khổ đau của nhân loại trong một chiếc áo
vàng và đôi chân đất. Nhiều nhà khoa học, kể cả Albert
Enstein, đến với đạo Phật không phải v́ đức Phật là đấng
giác ngộ siêu nhiên nhưng v́ ngài là nhà khoa học, nhà giáo
dục, là người thầy đạo đức của con người. Đạo Phật không ban
cho con người cứu cánh nhưng giúp cho con người những phương
tiện cần thiết để tự đạt tới cứu cánh an lạc cho chính ḿnh.
Tôi cũng yêu Gia Đ́nh Phật Tử, tổ chức hướng dẫn thanh thiếu niên
tu học theo tinh thần Phật Giáo. Gia Đ́nh Phật Tử thắp lên
trong hồn tôi ngọn lửa tin yêu để đời tôi không c̣n lạnh
lùng, không c̣n cô đơn và không c̣n sợ hăi. Tôi có anh, có
chị, có em. Gia đ́nh tôi không c̣n heo hút dưới rặng tre già
hiu quạnh, nhưng đă đông vui, nhộn nhịp hẳn lên. Tôi cảm
nhận được rằng t́nh thương không phải nằm trong lời rao
giảng suông nhưng là một điều có thật. Tôi được dạy để
thương yêu nhân loại và chúng sinh như thương yêu chính bản
thân ḿnh. Gia Đ́nh Phật Tử dạy tôi cách sống ḥa ḿnh vào
tập thể, cho tôi thấy được sự quan trọng và trách nhiệm của
một con người trong cộng đồng xă hội, biết sống cho ḿnh và
sống cho người khác. Tôi học cách mở mang sự hiểu biết trong
tinh thần Phật Giáo khoa học, khai phóng và dung hợp. Gia
Đ́nh Phật Tử không những dạy tôi làm người phải sống cho một
mục đích hướng thiện và nhân bản nhưng cũng can đảm chấp
nhận những khó khăn để đạt tới mục đích tốt đẹp đó. Ngày tôi
rời làng quê ở xứ Quảng ra đi, hành trang trí thức của tôi
không có ǵ ngoài Bi Trí Dũng.
Thế hệ của tôi, từ đó lớn lên trong mùa băo lửa ngút ngàn
của quê hương với bao nhiêu khó khăn vất vả. Nhưng càng vất
vả bao nhiêu tôi càng biết cám ơn hạt giống Bi Trí Dũng do
Gia Đ́nh Phật Tử gieo trồng trong tâm hồn thơ ấu của tôi.
Năm 1981, tôi rời tổ quốc ra đi theo tiếng gọi tự do. Nước
biển Đông mênh mông, rừng phương Tây bát ngát, nhưng trong
những đêm khuya, như con nai lạc nhớ về đoàn, về đội, tôi
vẫn lắng tai nghe tiếng hú thân quen vọng về từ kư ức.
Kư ức của tôi về Gia Đ́nh Phật Tử từ khi bảy tuổi cho đến
ngày nay th́ rất nhiều. Chuyện vui và chuyện buồn. Chuyện để
mỉm cười và những chuyện đă làm tôi rơi nước mắt trong mỗi
lần nhớ lại. Tuy nhiên, h́nh ảnh làm tôi nhớ và cảm động
nhất vẫn là buổi chiều Chủ Nhật đầu năm 1977 khi tôi đến
chùa Ấn Quang để thăm bổn sư tôi khi nghe tin thầy từ Hội An
vào dự đại hội lần thứ bảy của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất. Tôi vừa không có tư cách đại biểu và vừa ngại
công an ḍm ngó, nên chỉ biết ngồi trong quán Café bên kia
đường Sư Vạn Hạnh để chờ thầy họp xong. Thầy tôi không vào
tham dự đại hội nhưng tôi không biết nên vẫn cứ chờ măi từ
buổi trưa cho đến lúc trời chiều. Chùa Ấn Quang, cách đó hai
năm là trung tâm điều hành Phật sự của Phật Giáo Việt Nam,
hằng ngày tấp nập kẻ đến người đi, giờ đây là một ngôi chùa
vắng vẻ. Trong đại hội trước, chùa Ấn Quang với những ống
kính truyền h́nh, tiếng phóng viên trực tiếp truyền thanh
của các hăng tin quốc tế, nhộn nhịp bao nhiêu, đại hội lần
này diễn ra trong im lặng bấy nhiêu. Các “cư sĩ Phật Tử”,
các “đệ tử trung thành”, các “chính trị gia Phật Giáo”, các
“người hùng cách mạng”, v.v. đă không c̣n trở lại. Ngọn gió
công danh đă thổi họ về hướng khác. Nhiều trong số họ đă
sang Mỹ, sang Pháp, sang Anh. Một số khác c̣n ở lại và đang
tiếp tục kiếm sống bằng nghề cũ, nhưng đă thay lời rao “dân
tộc và đạo pháp”, bằng lời ca tụng “dân tộc và chủ nghĩa xă
hội” để thích hợp hơn với xu hướng chính trị của thời đại
mới.
Trong lúc tôi đang miên man suy nghĩ về thế thái nhân t́nh
trong quán Café bên đường Sư Vạn Hạnh, th́ một Gia Đ́nh Phật
Tử khoảng 20 em, vài em ngành thanh, một số ngành thiếu và
khá đông ngành oanh vũ bước vào chùa. Họ chở nhau bằng xe
đạp. Các em lớn, chắc để tránh ḍm ngó, đă mặc thêm bộ đồ
thường, khi bước vào chùa mới cởi áo ngoài ra. Tôi không
biết họ thuộc đơn vị nào v́ tôi không nhớ chùa Ấn Quang có
Gia Đ́nh Phật Tử riêng. Không giống như ngoài Trung, mỗi
chùa thường có một Gia Đ́nh Phật Tử, và ngoại trừ những ngày
lễ lớn, các gia đ́nh sinh hoạt cố định trong sân chùa hay
trong đoàn quán ḿnh, các Gia Đ́nh Phật Tử Sài G̣n Gia Định,
có khi sinh hoạt luân lưu ở các chùa trong thành phố. Tiếng
c̣i quen thuộc lại được thổi lên. Cả đoàn nghiêm chỉnh bắt
ấn Tam Muội, hát bài Sen Trắng để chào đoàn kỳ, trước khi
lắng nghe anh huynh trưởng dặn ḍ đôi điều cần thiết. Tôi
ngồi khá xa, không nghe anh nói ǵ nhưng qua khuôn mặt
nghiêm trang đượm một màu buồn, tôi thầm nghĩ, chắc anh
không có ǵ vui để gởi gắm cho các em ngoài t́nh thương và
niềm hy vọng. Gần một giờ sau, cả đoàn sắp thành một ṿng
tṛn nhỏ, cầm chéo tay nhau và hát bài Dây Thân Ái trước khi
tan hàng. Tôi nghe ḷng ḿnh cũng hát: “Dây
Thân Ái lan rộng muôn nhà.
Tay sắp xa nhưng tim không xa. Vui tươi ta biết trong ḷng
nhớ ḷng. Ca hát vang không gian đơm hoa. Đường tuy xa nhưng
t́nh bao la. Tiến bước theo hương thơm nhà lưu truyền. Dù
cách xa ngàn dặm nhưng gần. Gan thép ta chia tay đừng buồn.”
Nh́n các em đi ra khỏi chùa, ḷng tôi chợt dâng lên một niềm
đau xót như chính ḿnh đang trong cuộc chia ly. Tôi nh́n
theo bóng các em khuất dần phía cuối con đường. Những con
nai tơ tội nghiệp kia vẫn vô t́nh reo vui bên bờ suối mà
không biết phía sau lưng bầy sói dữ đang chờ. Tôi tự hỏi, họ
cầm tay nhau hôm nay, không biết tuần sau có c̣n được cầm
tay nhau nữa hay không. Họ gặp nhau hôm nay, tuần sau có c̣n
gặp lại nhau đông đủ như thế nữa hay không. Không ai có thể
trả lời khi cả nước đang bị quay cuồng trong cơn lốc. Các
công tŕnh thủy lợi, chính sách kinh tế mới, các buổi
mít-tinh thức chờ trắng mắt, các chiến dịch lượm lon, lượm
giấy, các kế hoạch nhỏ, các buổi học tập “Năm điều Bác Hồ
Dạy” sẽ một ngày không xa, cuốn hút tâm hồn chân thiện mỹ
của các em vào quỹ đạo của lọc lừa và dối trá. Tôi lo cho
các em, lo cho số phận của tổ chức đă hun đúc tôi nên người,
lo cho tương lai của Phật Giáo Việt Nam, và tương lai của
quê hương Việt Nam mà tôi yêu tha thiết. Tương lai đất nước
Việt Nam sẽ ra sao khi một đứa bé mới lớn lên mỗi ngày phải
học thuộc ḷng những câu đầy sắc máu: “Hạnh phúc tính theo
đầu người, là anh giết được bao nhiêu giặc Mỹ. Như cây yêu
đời sinh được mấy muôn hoa. Giết chúng đi, chỉ c̣n một đường
thôi : giết chúng. Ôi hôm nay ḷng ta như họng súng.” (Suy
Nghĩ 1966, thơ Chế Lan Viên). ” Ôi hôm nay ḷng ta như họng
súng”!, nếu trước 1975, có ai bảo tôi đó là thơ Chế Lan
Viên, tác giả của Điêu Tàn với những câu thơ rất dể thương
“Có một người nghèo không biết Tết. Mang ĺ chiếc áo độ thu
tàn. Có đứa trẻ thơ không biết khóc. Vô t́nh bỗng nổi tiếng
cười ran” mà tôi thuộc nằm ḷng từ ngày biết đọc văn thơ,
tôi chắc chắn không tin.
Tôi cũng vô cùng kính phục tinh thần can đảm của anh huynh
trưởng mà tôi chưa có dịp biết tên anh. Thật ra, lúc đó tôi
cũng không có ư định t́m hiểu tên anh, bởi v́, ngay giữa tâm
hồn tôi, anh đă có một cái tên rất đẹp: Huynh Trưởng Gia
Đ́nh Phật Tử Việt Nam. Anh như con chim đầu đàn đang bay
ngược chiều cơn băo lớn, cố giương đôi cánh tả tơi để che
chở cho đám chim non. Tôi đau xót nghĩ đến bao nhiêu sự bức
chế mà các cấp huynh trưởng Gia Đ́nh Phật Tử đă phải chịu
đựng từ sau 1975. Tôi vẫn nhớ lời Ḥa Thượng Thích Long Trí
nói với tôi trong dịp về Hội An thăm ngài vào năm 1976:
“Công việc chính của thầy bây giờ là đi thăm nuôi.” Ư thầy
muốn nhắc đến việc nhà cầm quyền lần lượt bắt giam hay gây
khó dể các huynh trưởng Gia Đ́nh Phật Tử tỉnh Quảng Nam Đà
Nẵng sau 1975. Không một đại lễ Phật Đản, Vu Lan, Phật Thành
Đạo nào mà không có cảnh bắt bớ, tự phê, tự kiểm theo sau.
Những trấn áp, đe dọa đó đă làm các huynh trưởng Hạnh Minh
Hồ Tấn Anh, Hứa Văn Xuân của Gia Đ́nh Phật Tử Quảng Nam,
không c̣n chọn lựa nào khác hơn là thắp lên ngọn đuốc để
đánh thức lương tri nhân loại, bằng chính nhục thể của ḿnh.
Tôi nhớ lại cảnh Ḥa Thượng Thích Trí Độ, lănh đạo tinh thần
tối cao của Phật Giáo miền Bắc, trong chiếc áo sơ-mi trắng
ngắn tay, già nua run rẩy trên khán đài đưa tay hoan hô đả
đảo theo đám thiếu nhi quàng khăn đỏ trong buổi “diễu binh
mừng chiến thắng” trước dinh Độc Lập mấy ngày sau 30-4-1975,
tôi cảm thấy đau xót và xấu hổ. Ḥa Thượng Thích Trí Độ, bổn
sư của nhiều cao tăng Phật Giáo mà tôi từng nghe ca ngợi là
cụ già mặc áo sơ-mi trắng đó hay sao?. Đâu là uy nghiêm của
một bậc tôn sư? Đâu là danh dự của một tôn giáo có lịch sử
dài hai mươi thế kỷ? Một chiếc áo tràng nâu ngài cũng không
được mặc đừng nói ǵ là giáo hội, là tiền đồ đạo pháp. Sau
này, có dịp hỏi thăm một giáo sư từ miền Bắc vào tiếp quản
trường Luật về t́nh h́nh Phật Giáo miền Bắc, tôi biết Phật
Giáo miền Bắc gần như không c̣n ǵ cả. Những ngôi chùa nổi
tiếng như Trấn Quốc, chùa Thầy, chùa Đậu, chùa Dâu, chùa Tây
Phương, chùa Hương Tích, v.v… chỉ là những di tích lịch sử
của một thời phong kiến xa xưa c̣n để lại. Phật giáo Việt
Nam, nếu may mắn được nhắc đến, chỉ là Phật Giáo của đời Lư,
đời Trần, Phật Giáo của Lư Công Uẩn, của Trần Thái Tông, chứ
không phải Phật Giáo của thời ngài Tố Liên, ngài Vĩnh
Nghiêm, ngài Tuệ Tạng. Đảng và nhà nước Cộng Sản nghiên cứu
Phật Giáo Lư Trần chỉ để chứng minh tính thời đại, tính lịch
sử đă qua của Phật Giáo như một món đồ cổ văn hóa, dấu vết
của một thời vang bóng chứ không nhằm khai triển và phát huy
các tinh hoa vượt thời gian và vượt không gian của Phật
Giáo. Trong suốt mấy mươi năm, Phật giáo miền Bắc không được
phép xây thêm một ngôi chùa nào, không được phép xây dựng
một Phật Học Viện nào, không được phép tổ chức một Giới Đàn
nào và dĩ nhiên cũng không đào tạo được thế hệ tăng ni nào
cả.
Sau 28 năm, mặc dù văn minh thế giới và trào lưu tư tưởng
con người đă đạt rất nhiều tiến bộ, cơn băo vô thần càn quét
suốt 28 dài trên đất nước Việt Nam đầy bất hạnh vẫn chưa
dừng. Nhân loại đă bước vào kỹ nguyên dân chủ đa nguyên. Năm
1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới
theo chế độ dân chủ, phần lớn là các quốc gia kỹ nghệ tân
tiến Châu Âu. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên
thế giới theo chế độ dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo
nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ Nam Phi đều đă có quyền
chọn lựa người lănh đạo cho đất nước ḿnh. Dân chủ đă trở
thành một hiện tượng toàn cầu (a global phenomenon). Thế
nhưng Việt Nam th́ không hay ít nhất th́ chưa. Dân chủ tại
Việt Nam vẫn là con đường một chiều dành riêng cho các lănh
tụ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vẫn
tiếp tục sống như một đàn chim trong chiếc lồng sắt, không
hay biết ǵ về thế giới bên kia. Thật đúng như chị Vũ Thúy
Hà, vợ của bác sĩ tù nhân Phạm Hồng Sơn, phát biểu trong bài
phỏng vấn kư giả Evan Williams trên đài ABC Úc mới đây:
“Chúng tôi thường nghe đến dân chủ nhưng thú thực chưa bao
giờ biết nó là cái ǵ cả.”
Sau 28 năm, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đại diện
của truyền thống hai ngàn năm Phật Giáo Việt Nam, vẫn tiếp
tục bị đàn áp. Những chùa chiền, thiền viện, tự viện không
chịu tuân phục chỉ thị của đảng, không chịu khép ḿnh vào bộ
máy lănh đạo của đảng, đă bị ức chế trăm điều. Đảng Cộng Sản
Việt Nam không những chỉ xúc phạm đến Phật Giáo Việt Nam
nhưng c̣n xúc phạm truyền thống đạo đức, vốn là một phần
quan trọng của nền tảng văn hóa dân tộc Việt Nam.
Lá thư của thầy Tuệ Sỹ cũng nhắc đến bao gương hy sinh cao
quư mà nhiều thế hệ tăng ni đă phải hy sinh cho đạo pháp và
dân tộc. Thầy viết: “Di
sản được tích lũy ṛng ră hằng thế kỷ, bằng bao tâm tư qua
bao khổ lụy đau thương, bằng máu và nước mắt của biết bao
Tăng Ni, Phật tử; mà những người gầy dựng nên di sản đó bằng
bi nguyện và hùng lực của ḿnh, có vị bị bức tử bởi bạo
quyền, có vị suốt năm tháng dài chịu tù đày, bị lăng nhục.
Nhưng sống hay chết, vinh hay nhục, không làm dao động tâm
tư của những ai biết sống và chết xứng đáng với phẩm cách
của con người, không hổ thẹn với phẩm hạnh cao quư của bậc
xuất gia.” Thầy Tuệ Sỹ không viết danh hiệu các
bậc tôn đức tăng ni tử đạo hay đang mang gánh nặng dân tộc
và đạo pháp trên vai, nhưng là người Phật Tử Việt Nam, làm
sao chúng ta có thể quên, trên mỗi bước chân chúng ta đi hôm
nay vẫn c̣n nghe vọng lại niềm đau nhức của bao nhiêu bậc
tôn sư và tiền nhân đi trước.
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam sẽ măi măi ghi đậm h́nh ảnh các
tăng ni và đồng bào Phật tử các giới đă hy sinh trong mùa
pháp nạn 1975. H́nh ảnh các tăng ni đă tự thiêu tập thể tại
chùa Dược Sư Cần Thơ cuối năm 1975. H́nh ảnh của cố Ḥa
Thượng Thiện Minh bi hỏi cung, hành hạ đến chết và xác bị
đem ra chôn ngoài b́a rừng Hàm Tân năm 1978. H́nh ảnh ngài
Quảng Độ cùng với bà mẹ già 80 tuổi bị đày ra một ngôi chùa
hẻo lánh, sống trong khó khăn, đói khát ở Thái B́nh từ năm
1982. H́nh ảnh Ḥa Thượng Huyền Quang, lănh đạo tinh thần
tối cao của Phật Giáo Việt Nam, bị công khai sỉ nhục trên
đài truyền h́nh năm 1980. H́nh ảnh cố huynh trưởng Hạnh Minh
Hồ Tấn Anh tự thiêu trong ngày 2 tháng 9 năm 2001. H́nh ảnh
thân xác cháy đen của huynh trưởng Hứa Văn Xuân tự thiêu ở
chùa Lan Hương tỉnh Quảng Nam tháng 10 năm 2001. Và bao
nhiêu sự hy sinh âm thầm của những bậc bồ tát, các thánh tử
đạo khác đă v́ an lạc của đồng bào và tương lai của đạo pháp
mà phát tâm hoàn thành đại nguyện.
Trong khoảnh khắc ngậm ngùi lo lắng cho quê hương và đạo
pháp, lá thư của thầy đă vực tôi về lại với con đường chánh:
“Các con hăy tự rèn
luyện cho ḿnh một tín tâm bất hoại; một đức tính dũng mănh
vô úy; nỗ lực tự huân tập trí tuệ bằng văn, tư, tu để nh́n
rơ sự tướng chân ngụy, để thấy và biết rơ ḿnh đang ở đâu,
đang đi về đâu; không nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy
bên ngoài nhưng rệu ră bên trong, đang lao xuống dốc dài
không định hướng.” Thưa vâng. Giống như h́nh ảnh
vô úy của anh huynh trưởng đứng trong sân chùa Ấn Quang năm
1977, tôi dặn ḷng hăy giữ lấy niềm tin vào chánh pháp và
trung thành với lư tưởng của một đoàn viên Gia Đ́nh Phật Tử
Việt Nam. Đạo Phật là đạo của t́nh thương và t́nh thương
chính là kỳ quan tinh thần vĩ đại nhất của văn minh nhân
loại. Vó ngựa của đạo quân Hồi Giáo đă san bằng trung tâm
văn hóa Phật Giáo Nalanda, tàn sát hàng triệu Phật Tử Ấn Độ
nhưng đạo Phật vẫn tồn tại và phát triễn. Lời Phật dạy sau
hơn hai ngàn sáu trăm năm vẫn c̣n được nghe từ đỉnh Hy Mă
Lạp Sơn cho đến tận vùng băng tuyết xa xôi của xứ Siberia,
Tây Á. Những lời kinh Phật được tụng từ tu viện đơn sơ ở cố
đô Anuradhapura, Tích Lan, c̣n vang vọng đến giăng đường
hiện đại của đại học Harvard, nước Mỹ. Cây Bồ Đề đầu tiên
nơi đức bổn sư thành đạo bị đốn ngă nhưng hàng trăm triệu
hạt giống bồ đề khác đă mọc và lớn lên tươi tốt khắp thế
gian. Niềm tin và chân lư bao giờ cũng mạnh hơn cường quyền
và bạo lực.
Một đoạn thư khác của thầy Tuệ Sỹ: “Một
chút phù danh, một chút thế lợi, một chút an nhàn tự tại;
đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm thường và giả ngụy, mà
ngay có người đời nhiều kẻ c̣n vất bỏ không tiếc nuối để giữ
tṛn danh tiết. Chớ khoa trương bảo vệ Chánh pháp, mà thực
tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma vương, là
nơi tụ hội của cặn bă xă hội.” Đây là một nhắc
nhỡ vô cùng quan trọng dành cho mọi người Phật Tử. Thầy cảnh
giác các hiện tượng thỏa hiệp, đầu hàng, tiêu cực, sợ hăi
đang c̣n phổ biến trong sinh hoạt Phật Giáo trong nước, cũng
như thái độ xa lánh, thờ ơ ở ngoài nước. Xây chùa lớn, chùa
đẹp để làm ǵ trong khi cả một dân tộc đang trầm luân trong
độc tài, nghèo nàn, lạc hậu? Đức Phật chẳng đă từng bảo đệ
tử dọn cơm cho người ăn mày đói khát được ăn no trước khi
nghe pháp hay sao? Thân không an th́ làm sao Tâm an được.
Dân Tộc và Đạo Pháp không phải là khẩu hiệu đấu tranh chính
trị nhằm lật đổ một chính quyền như một số người đang bôi
nhọ mục đích đấu tranh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất hiện nay, nhưng là một thực thể gắn liền từ trong máu
huyết của mỗi người Phật Tử Việt Nam. Trong suốt ḍng lịch
sử, sinh mệnh Phật Giáo Việt Nam bao giờ cũng gắn liền với
sinh mệnh dân tộc, cùng vui với niềm vui của đất nước và
cùng chia một nổi đau chung của đất nước. Phật giáo không
chủ trương độc tôn thống trị và cũng chưa bao giờ trong lịch
sử Việt Nam, đă đóng một vai tṛ như thế. Trong thời đại Lư
Trần, thời đại vàng son của Phật giáo Việt Nam, nhiều nhà sư
đă tham gia trực tiếp vào việc trị nước chăn dân, và hầu hết
vua chúa không những đều là Phật tử mà c̣n là tổ của các
Thiền tông lớn, nhưng không phải v́ thế mà Phật giáo trở
thành lực lượng thống trị xă hội. Trái lại, các tôn giáo
khác tại Việt Nam vẫn tồn tại và có ảnh hưởng quan trọng
trong mọi sinh hoạt văn hóa xă hội, thương yêu và gắn bó với
nhau. Các nhà vua thời Lư, thời Trần với quyền hạn tuyệt đối,
nhưng thay v́ xây dựng những đền chùa nguy nga bằng mồ hôi
nước mắt của nhân dân, các ngài đă để lại cho chúng ta ngày
ngay những tổ đ́nh uy nghiêm, tôn kính nhưng với một kiến
trúc vô cùng khiêm nhượng. Tại sao? Đơn giản bởi v́ các ngài
là những v́ vua nhân từ, lănh đạo một đất nước vừa nghèo khó,
vừa phải lo chống đở các triều đại Bắc phương không ngừng
xâm lấn. Các ngài đă biết đặt sự an lạc của dân tộc lên trên
sự hưng thịnh riêng của tôn giáo ḿnh. Nước và sữa c̣n có
thể phân ly nhưng Đạo Phật Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam
không thể nào và cũng không ai có thể làm phân ly được. Câu
thơ của Ḥa Thượng Măn Giác “Mái chùa che chở hồn dân tộc,
nếp sống muôn đời của tổ tông” mang ư nghĩa vô cùng thân
thương và tha thiết như thế đấy.
Khi đọc lần nữa câu kết luận của thầy: “Cầu
mong các con có đủ dũng mănh để đi bằng đôi chân của ḿnh,
nh́n bằng đôi mắt của ḿnh; tự xác định hướng đi cho chính
ḿnh“, tôi chợt nhớ đến các em ngành thiếu,
ngành oanh vũ trong sân chùa Ấn Quang buổi chiều năm 1977.
Hai mươi sáu năm rồi, các em oanh vũ ngày xưa đă lớn. Và các
em đoàn viên Gia Đ́nh Phật Tử, nếu sinh ra ở hải ngoại trong
cùng thời điểm, th́ nay cũng đă trưởng thành. Thế hệ của các
em lớn lên trong thời b́nh, không phải trải qua những ngày
khốn khó. Nhiều trong số các em đang là những chuyên gia lỗi
lạc trong nhiều ngành khoa học kỹ thuật, kinh tế xă hội ở
nước ngoài. Nhưng trong tâm hồn các em, ḍng suối Từ vẫn
chảy, và trái tim của các em vẫn hướng về nơi có bóng Từ
Quang tỏa sáng. Các em, chứ không ai khác, phải có trách
nhiệm xây dựng lại đoàn, đội của ḿnh một cách thích hợp với
môi trường mà các em đang sống. Đừng sợ mất bởi v́ mất để
c̣n hơn là cố bám víu nhưng biết rằng sẽ mất vĩnh viễn. Các
em, chứ không ai khác, phải biết tự làm vở chiếc vỏ dày bảo
thủ trong tâm thức, trong tổ chức của các em, để những mầm
xanh Bi Trí Dũng được có cơ hội lớn lên trên nền đất mới.
Các em, chứ không ai khác, phải biết bay qua các ao tù nước
đọng của quá khứ hoài nghi và định kiến, để phát huy tinh
thần Bi Trí Dũng bằng thái độ khai phóng và dung hợp trong
thời đại toàn cầu.
Được như thế, tôi tin, một ngày không xa, các em sẽ cùng với
hàng trăm ngàn đoàn viên Gia Đ́nh Phật Tử trong nước mang
ngọn lửa t́nh thương, tin yêu và hy vọng thắp sáng bầu trời
đất mẹ Việt Nam. Đêm tối sẽ qua đi. B́nh minh sẽ đến. Trong
sân chùa Trấn Quốc, Từ Đàm, Viên Giác, Ấn Quang, Vĩnh Nghiêm,
Xá Lợi … những con chim oanh vũ lại cất cao tiếng hát.
Sau lưng các em sẽ không c̣n đàn sói già ŕnh rập nhưng là
tiếng suối Từ róc rách, tiếng chuông chùa nhè nhẹ êm đưa.
Các em sẽ hănh diện và sung sướng bạch với Ḥa Thượng Viện
Trưởng: “Vâng, chúng con không c̣n sợ hăi nữa thầy ơi”.
Cám ơn thầy.
Trần Trung Đạo

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT