
HUYỀN KÝ
Ông
lão chậm rãi mở cửa am thờ. Một cái khám nhỏ nằm sâu trong
tường, một bức tượng Phật kiểu Nhật Bản đang được an vị
trong đó. Một vầng hào quang trắng đục bao quanh tượng Phật,
không rõ ánh sáng đến từ một nơi nào trên trần nhà hay một
bóng đèn được lắp kín đáo đâu đó. Trước khám thờ chỉ có một
chiếc bàn gỗ mặt hẹp nhưng chân cao, thoáng nhìn giống hệt
một con hạc đang hầu Phật. Như quên mất người khách đang
đứng sau lưng mình, ông lão lặng lẽ chấp tay làm lễ một lúc,
trong im lặng. Đoạn, kính cẩn đưa tay lên bàn thờ cầm lấy
một chiếc hộp gỗ nhỏ chừng hơn gang tay, rồi nhẹ nhàng mở ra.
Hắn như nín thở nhìn theo từng động tác của ông lão. Trong
đó chỉ là một cuốn sách, một xấp giấy cũ thì đúng hơn. Ông
trao cho hắn.
Nó
đáng gọi cổ thư, giấy thô ráp ố vàng, chữ nghĩa bên trong là
thứ văn tự gì đó nếu chẵng của Tây hạ hẳn cũng Thổ Phồn cổ
tự, trông như đàn kiến bò trên những lóng trúc lục bình. Mặc,
dăm trang cuối sách là những trang viết tay dày đặc, Anh ngữ
hẵn hoi, văn pháp đương đại, thậm chí từng dòng chữ cơ hồ
còn thơm mùi mực. Có điều bút khí cuồng lộng, ý tứ thần dị.
Hắn chong mắt xăm xoi.
“ Muốn
hoá thân ra người Quán Tự Tại, đừng học cách Ở, hãy học phép
Đi. Dúm cơm khô trong túi du hành còn đắc dụng hơn trang
viên giữa phố. Hãy biến những thứ có được ra hành trang trên
đường. Đừng nghĩ chuyện dài lâu, không buồn vui nào dài quá
một nháy mắt. Ai cũng sợ mù lòa, nhưng thích sống vô minh.
Và mặc ta vô minh, đời cứ thế vô thường. Hãy tận dụng sáu
cửa nội tại để trăm năm không trôi mất. Thời gian chỉ tồn
tại khi ta biết cách tồn tại.
“Người
hoằng đạo chớ sợ đời mạt pháp. Mạt pháp chỉ là tên gọi một
cách tồn tại khác của Chánh pháp. Chánh pháp luôn có cách
tồn tại trong mỗi thời kỳ. Tùy căn cơ, chánh pháp được hiển
hiện qua những chiều kích khác nhau. Hãy trao cho trẻ con
những món đồ chơi, gương lược cho phụ nữ, hoa ruợu cho nhà
thơ, cổ thư cho học giả, cùng với một lời nhắn nhủ cho mỗi
người về mục đích của cuộc chơi. Rong chơi có mục đích được
gọi là hành hương, dắt tay người cũng là cách độ chúng. Cùng
nhau vào cuộc chơi với xâu chuỗi trên tay mỗi người, không
niệm Phật cũng cứ là tu niệm. Đừng ngồi cô độc bên đường ôm
hòm bối diệp mà tưởng tiếc ngàn xưa.
“Thái
độ nào cũng chỉ là một sự bày tỏ, thể hiện, một tiếng nói.
Việc đời hay chuyện đạo đều cần đến một lời rỉ tai là không
nên bỏ xác ở một kết luận nào hết. Đời là một cuộc đi. Còn
hơi thở là còn bước đi và giảo nghiệm. Sao cũng là tốt, miễn
đừng bao giờ nghĩ đến hai chữ Tốt Nhất. Chữ Nhất thường đi
chung chữ Lầm. Chỉ nên Tốt Hơn, đừng bao giờ là Tốt Nhất.
Thế giới đã đổ máu, nhỏ lệ, chỉ vì những nhãn hiệu. Chớ tin
kẻ tìm thấy chân lý, hãy lắng nghe người đang tìm chân lý.
Đời vô thường nên con đường nào cũng chỉ là giải pháp tạm
thời. Đừng mong lấy cái ngắn hạn giải quyết chuyện đời thiên
thu. Mùa đông có tuyết trắng và cành khô, thế chẵng đủ tuyệt
vời lắm sao ? Cứ gì phải vì luyến tiếc mùa xuân mà cưỡng cầu
thứ hoa khô giả tạo. Mùa nào thức nấy. Người hành giả rong
chơi với bốn mùa trong tim và ngay trước mắt.
“Một
trong những thứ kinh thư đáng được thờ lạy nhất trên trái
đất này chính là mấy cuốn sách danh ngôn. Thật lạ lùng khi
người ta có thể cóp nhặt đủ thứ để lập giáo xưng danh một
cách nghèo túng, kể cả những vá víu vay mượn đầy bệnh hoạn,
mà chưa hề có người tuyên xưng thứ kinh điển ngàn vàng ấy.
Chúng là tinh hoa ngàn đời của nhân loại, là máu huyết của
vô số cổ nhân, và nằm ngoài tất cả mọi nhãn hiệu. Thần tượng
vĩ đại nhất trên thế giới này phải nằm ngoài mọi nhãn hiệu
để có thể đại diện cho tất cả những thứ cao đẹp. Hiếm một
tín đồ của bất cứ tôn giáo nào trên đời chịu để ý rằng càng
lên tiếng suy tôn giáo chủ một cách ồn ào thì càng thu hẹp
không gian tồn tại của đối tượng mình tôn thờ. Chỉ nên nhắc
đến cõi tinh thần của các thần tượng, đừng xây lên những bảo
tòa cao ngất vốn xa lạ với nhân gian và làm chướng mắt những
người chưa tìm thấy sự khả kính ở đó. Hãy để các vị ấy hiện
hữu một cách thơ mộng và cao khoát như trăng khuya, biển
chiều, núi cao, sông dài. Những thứ thiên nhiên đó không cần
đến sự quảng cáo. Và tình yêu thiên nhiên sẽ không tạo ra
những khoảng cách không nên có giữa những tim người.
“Đừng
ham cái Dễ mà chối bỏ cái bị xem là Khó. Mọi thứ trước khi
trở nên dễ dàng đều phải là khó khăn. Hãy yêu cái đơn giản,
nhưng đừng ham chi chuyện dễ dàng. Ai đó đã bảo, hãy sống
đơn giản theo mức đơn giản vốn có của đời sống, nhưng nhớ
đừng tìm cách đơn giản hơn nữa. Học hành một cách đơn giản
là thông tuệ, cố gắng đơn giản hơn mức cần thiết là lười
biếng.
“Ở một
tuổi nào đó trong đời hãy học cách yêu lấy đáy thẳm của sự
yên lặng. Cách nói đó oách quá, ăn cắp của một tay ngông
ngạo. Nghe ra không được thật thà và tới nơi tới chốn bằng
hai chữ vô danh. Phải. Nhớ câu nói của ai đó, tuyệt diệu
nhất vẫn là sự giàu có của một người vô danh. Hãy tự xem
mình là kẻ đang bị truy sát, lộ diện là tự sát. Hãy bắt đầu
yêu lấy nổi vô danh để làm quen với sự lặng lẽ của mộ địa.
Một trong những thú vị lớn nhất của nhân gian là trồng hoa
trên đỉnh ngàn, đêm đêm nghe gió xuôi về đồng bằng, mang
theo món quà vô danh của mình. Vô danh mà vô tình vô tâm, đó
chỉ là kiếp đời của một tử tù trong hầm sâu ngục tối. Vô
danh mà có tâm, có tình chính là tận hưởng sự hiện hữu phù
vân.
“Một
ngày mùa đông về chơi một góc nhỏ Thượng Hải, rong chơi mấy
hôm bỗng nhận ra mình đã già, đã thay đổi nhiều quá. Ngày
trước cứ một lòng khăng khăng đi tìm cái tinh khôi của đạo
Phật, thường xuyên dị ứng với những thứ đơm đặt của đời sau.
Bây giờ bụng cứ nghe vui râm ran kín đáo, khi tình cờ bắt
gặp đâu đó một dấu vết của Phật lẫn khuất, vương vãi trong
dân gian. Một chút thôi, cũng cứ thấy quý. Lòng đã tự tìm
thấy một thỏa hiệp rồi chăng ? Không hiểu nổi chính mình,
ngày về bèn đem chuyện hỏi lại một người quen. Nhận được câu
trả lời ngộ nghĩnh không biết nên vui hay buồn: Đã già rồi
đó, vòng tay lớn hơn vì mắt đã chịu nhìn xa hơn. Người bỗng
dễ thương là người sắp chết đấy biết không ?
“Ba
ngày xuân, nhằm dịp cuối tuần, chẵng đi đâu hết. Không chốn
đi cũng chẵng có người để gặp. Chợt nhận được thư xa, từ
nghìn trùng quê cũ. Một người quen vẫn chưa quên mình. Kể
cũng là thương. Đôi câu hỏi han, dăm ba lời trách, pha chút
vui buồn như kiểu mưa nắng bên đó. Chẵng biết phải nói gì,
chợt nhớ lại một bài thơ vừa làm cách đó không lâu, sẳn sàng
như một lời đáp cho câu hỏi đã biết trước. Em hỏi tôi ngày
trở về cố quận. Tôi trả lời đâu cũng chốn quê hương. Em hỏi
tôi bao giờ thôi lận đận. Tôi xin thưa: Cứ suốt kiếp trên
đường. Em hỏi tôi gió phương này có lạnh ? Tôi trả lời: Đời
giá rét chung thân. Đợi mưa gió bên ngoài chừng ráo tạnh,
đốt thơ mình nhóm lữa sưỡi đôi chân. Em hỏi tôi sao một đời
khinh bạc, phủi tay hoài những ấm lạnh tình thân. Tôi trả
lời gã tiên khờ đi lạc, buổi kim tiền sao có nổi tri âm !”
Trong
ánh sáng mờ nhạt của am thờ, hắn đứng đọc một mạch không sót
một chữ, toàn bộ mấy trang giấy đó. Đọc trong im lặng và
nghe mình như đang lên đồng. Đúng hay sai, một phần hay toàn
bộ, nội dung kỳ quái trong cuốn sách kia. Hắn lễ phép trả
lại cuốn sách cho ông lão và từng bước rời khỏi am.
Bên
phiến đá trắng được kê làm mâm trà giữa khu vườn tĩnh mịch,
trong cái không gian váng vất một mùi hương lạ của loài hoa
nào đó mọc chen trong những kẻ đá, ông lão giữ am nhỏ giọng
kể lại cho hắn câu chuyện cũ:
-Thầy
trò lão gặp nhau lần đầu ở Nam Kinh. Trên một chuyến tàu
đêm. Nhân duyên là cái gì đó không nói được nhưng có thật
trên đời ông ạ. Khuya hôm đó, lão lóng ngóng thế nào mà lại
làm đổ cả ly trà nóng trên chân sư phụ. Lúc đó thầy chỉ mới
ngoài bốn mươi.
Đang
cúi xuống định lau lấy chiếc giày ướt đẩm kia như một cách
xin lỗi, lão bỗng nghe một câu nói rành rọt, chữ nghĩa và âm
sắc như của một người bản xứ:
“Ông
cụ đừng làm vậy, tôi có thứ trà này ngon lắm, cụ có sẳn nước
sôi ở đây sao, hay là ngồi uống với tôi một chén”
Ông có
tin không, người vừa nói với tôi câu đó là một thầy tu nước
ngoài. Nếu không tận mắt nhìn, ai biết được đó là tiếng Tàu
của một người ngoại quốc chỉ đến Trung Hoa chưa được chừng
vài bận. Văn hoá của một xứ Tàu kín cửa suốt mấy chục năm đã
không cho phép lão có được cái tư phong cần có trước hoàn
cảnh đó. Thật lạ, chỉ sau vài ba tuần trà, lão bỗng thấy
mình không thuộc về miền đất này nữa. Lão đã thuộc về người
khách lạ vừa quen biết trong tình huống kỳ cục đó. Chỉ hỏi
lão hai câu về gia đình và sức khoẻ, sư phụ nhìn thẳng vào
mắt lão rồi hỏi không ngập ngừng: Ông cụ có chịu về tu hành
với tôi ? Nói thiệt, con người đó có rũ lão đi ăn mày lão
cũng gật đầu ông ạ. Chúng tôi đến Thượng Hải, sư phụ bảo lão
viết một cái thư về cho hai thằng con trai.
Cứ vậy
là lão về sống với sư phụ. Thầy lạ lắm, chuyện gì cũng nói
trên bàn trà. Lão học đạo cũng ở ngoài vườn. Không giấy mực
gì hết. Bất cứ thứ gì nhìn thấy chung quanh đều có thể là
cái cớ để thầy nói về Phật học. Từ các món gia dụng trong
nhà đến những chậu kiểng, hồ nước ngoài vườn. Từ đó, làm gì
và ở đâu lão cũng thấy Phật pháp và như nghe cả tiếng nói
của sư phụ. Hai mươi năm trời trôi qua vùn vụt. Vậy rồi thầy
đi. Thanh thản lắm, không bệnh hoạn gì hết, chỉ nói muốn nằm
nghỉ. Đến lúc vào báo giờ cơm trưa, lão mới biết. Hơn một
tháng trước đó, bỗng dưng sư phụ cứ dặn dò lão chuyện này
chuyện khác. Lão không thể linh cảm ra điều gì. Rõ ràng sư
phụ nhỏ hơn lão đến chục tuổi mà. Cuốn sách đó sư phụ để
trong chiếc va-li hành lý mà ngày trước vẫn dùng trong những
chuyến đi xa. Lão thờ ở đây như một kỷ niệm gắn bó với sư
phụ nhiều nhất. Sư phụ đi nhiều, quen nhiều, sao lại chọn
lão chứ. Đến giờ lão vẫn chưa hiểu và cũng chưa từng hỏi qua
sư phụ chuyện đó. Chỉ biết rằng ngoài Phật pháp, chưa hề
nghe thầy nói đến thứ gì khác. Nhớ lại một câu dặn dò bâng
quơ của sư phụ ngày trước, lão đã rải tro di cốt của thầy
xuống biển ngay sau lễ hoá thân. Gia tài sư phụ để lại cho
lão chính là những gì lão đã nghe được ngay từ bàn trà này
và vài thứ vặt vãnh trong hành lý gió bụi của thầy ngày xưa.
Cái am này giờ cũng đã mục nát rồi, mai này tới phiên lão đi
xa, chắc chỉ còn lại khu vườn hiu quạnh này.
Đang
nói đến đó, lão liếc mắt vào chiếc đồng hồ tường treo trên
vách gỗ sau lưng, rồi xin phép khách đến gióng nhẹ ba hồi
chuông để bắt đầu buổi kinh chiều. Hắn cứ như ngẩn ngơ khi
nhìn theo lão, nhìn đến từng món vật dụng chung quanh. Đúng
là cái gì ở đây cũng phảng phất bóng dáng người sư phụ kỳ lạ
của lão. Cái đồng hồ tường khó tìm thấy ở bất cứ đâu: Hai
chiếc kim trên đó chỉ là hai que trúc mong manh gắn vào một
mảnh đá tròn dát mỏng. Cái gọi là chuông kia cũng lạ lùng,
trông như một cái bát khất thực của nhà sư đem treo ngược,
những dư hưởng sau cùng của chuông nghe như tiếng muỗi bay.
Không
muốn quấy rầy ông lão đang tụng kinh bên trong, hắn khẻ
khàng bước nhẹ ra phía cổng tìm cái gì bỏ bụng buổi chiều.
Ông lão khi nãy vừa bảo đêm nay sẽ đãi hắn một buổi uống trà
giữa đêm để ngắm hoa quỳnh nở. Hắn đã ra khỏi khu vườn mà
bên tai vẫn như nghe rõ ràng một giọng nói xa lạ: Mặc ta vô
minh, đời lặng lẽ vô thường !
Florida
Những Ngày Giáp Tết - 2006
TOẠI KHANH
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT