WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE !
Vien Hoa Dao thich tue sy.jpg

Hit Counter Visistors so far !

THE UNIFIED BUDDHIST CHURCH OF VIET NAM - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT- THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE

Kính Mời Chư Tôn Đức Tăng Ni Cùng Quí Phật Tử Tham Dự  Lễ Vu Lan Tại Room Đạo Tràng Thảo Luận Phật Pháp Online được tổ chức trong nay mai  

Cố Hoà thượng Ân Sư Thích Trí Thủ (Bị Chính quyền Cộng Sản Việt Nam Thủ Tiêu Đầu Độc vào đầu tháng 4/1984)

Xin Thông Báo Khẩn Cấp: cô Thừa Thiên thành viên của hội Từ Bi Tâm không may bị tai nạn xe hơi, chấn thương sọ naơ, xin quí phật tử liên lạc với anh HotCali hơặc anh Blind @ room SHPP hoặc phone: 714-554-5050 hoặc 714-609-6828-Password to phần 1) download bai giang : alanbao or duongtieu- Mọi Cúng Dường Về Trại Phong B́nh Minh và Người dân nghèo khổ tại Viet Nam Xin Gửi Cho Huynh GodFather87  Thủ Quỷ của TuBiTam Charity Organization , Check xin đề : Từ Bi Tâm và cúng dường vào việc ǵ; địa chỉ 1343 S.Scarborough Ln. Anaheim, Ca 92804 , USA. Xin thành kính tri ân quư vị phật tử-Thay mặt ban Điều Hành Từ Bi Tâm :Ban Điều Hành Dân Chủ gồm 6 người  : DươngTiêu-ATB-Godfather87-Blindlistener-Bingo2k2 va` Hotcali(Hồtịnhtâm) dưới sự hướng dẫn tinh thần của sư cô LiễuPháp website: www.tubitam.com

DownLoad Bài Giảng

H́nh Ảnh Sinh Hoạt

Khóa Tu Học

Trại Hè Phật Tử 2006 Dallas

1a)Chương Tŕnh Từ Thiện

 Nhóm TừBiTâm

Truyện Phật Giáo(DiệuHiền)

Tin Tức Giáo Hội

3)Liên Lạc

Hướng Dẫn Nghe Pháp

H́nhẢnh GHPGVNTN

DVD & CD donation

3e)PhápÂm/PhỏngVấn

Pháp Thoại

4)Lịch Sinh Hoạt

Home

T́m Kiếm(search)

Quê Mẹ

Tin Phat Giao The Gioi

Tin Việt Nam/Thế Giới

Tuổi Trẻ Việt Nam

 

Thuong To aThich Tri Sieu Le Manh That

Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hăi

Cố Sư Bà Thích Nữ Diệu Không

 

 

   

WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE!

ĐÀN ÁP TÔN GIÁO LÀ HUỶ DIỆT SỨC SỐNG CỦA DÂN TỘC !

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED STATES OF AMERICA
VĂN PH̉NG II VIỆN HÓA ĐẠO - HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
VPLL: 311 E. MISSION ROAD, SAN GABRIEL CA 91776 * TEL 626 614-0566 * FAX 626 286-8437

Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cơi Thật

Thế Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ !

 

Bàn về tư tưởng Phật Học

trong tiểu thuyết Vơ Hiệp Kim Dung

Thích Chơn Thiện

--- o0o ---

 

Thay lời tựa


Tiểu sử  Kim Dung


Theo tài liệu :
1. " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm ", Bành Hoa-Triệu Kiến Lập, dịch giả Nguyễn thị Bích Hải, NXB Trẻ, TP. HCM, 2002.

2. " Kim Dung : Tác Phẩm và Dư Luận ", Nhiều tác giả, NXB Văn Học, TP. HCM, 2001.

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tháng 2, 1924 trong một gia đ́nh gồm sáu anh chị em, Kim Dung là thứ hai, tại Viên Hoa Trấn, huyệïn Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, là nơi địa linh nhân kiệt của Trung Quốc.

Thân mẫu là người của thời " Ngũ Tứ " ( 4/5/1919 ), thời của phong trào đấu tranh dân chủ mở đầu thời kỳ hiện đại Trung Quốc, tri thủ đạt lễ, thích thơ văn, tư tưởng khai minh, dân chủ.

Thân phụ là Tra Xu Khanh không theo nghiệp văn chương, mà vào doanh thương, vừa là một đại địa chủ có đến 3.600 mẫu ruộng, với hơn 100 hộ tá điền.

Cụ cố nội là Tra Thận Hành là nhà thơ nổi tiếng bậc nhất đời Thanh. Ông nội là Tra Văn Thanh, đỗ Tiến sĩ, làm Tri huyện ở Giang Tô, bênh vực nhóm nhân dân đốt nhà thờ Thiên Chúa mà bị triều đ́nh cách chức.

Họ Tra là ḍng dơi thế gia vọng tộc, thanh danh hiển hách từ triều Nam Đường thời Ngũ Đại (907 - 960). Vua Thanh Cao Tông - Càn Long đă ngự đề một câu đối treo cao trước cổng từ đường rằng :

" Đường Tống dĩ lai cự tộc
Giang Nam hữu sổ nhân gia "
( Họ lớn từ thời Đường Tống
Danh gia bậc nhất Giang Nam )
Người đương đại th́ khen :
" Một nhà bảy Tiến sĩ
Chú cháu năm Hàn lâm "

Thiếu thời, Kim Dung rất tuấn tú, thông minh, hoạt bát, tinh nghịch mà biết điều; mê cảnh đẹp và say nghe các chuyện kể hay và đẹp.
Từ năm 1930 đến 1940 : Theo học Tiểu học ở Hải Ninh, Triết Giang, học Trung học ở Hàng Châu.

Từ năm 1941 đến 1945 : Học luật pháp quốc tế khoa ngoại văn, trường đại học chính trị Trùng Khánh. Làm việc tại Thư viện Trung ương lúc chưa tốt nghiệp. Bấy giờ Kim Dung có dịp nghiền ngẫm nhiều sách, truyện.

Từ năm 1946 đến 1949 : Trở lại Hàng Châu làm phóng viên cho nhật báo Đông Nam, sau lại được Đại Công Báo tuyển trong số hơn 3.000 người dự tuyển; sang thường trú ở Hồng Kông, phiên dịch tin tức quốc tế cho báo nầy.

Từ năm 1950 đến 1955 : Chuyển sang biên tập phụ san cho báo Tân Vấn, phụ trách mục Chuyện trà chiều, kiêm dịch tin tức, dưới bút hiệu Diêu Phúc Lan.

Bấy giờ Kim Dung khởi sự viết tập tiểu thuyết vơ hiệp đầu tay : " Thư Kiếm Ân Cừu Lục " với bút hiệu Kim Dung.

Năm 1956 : Sáng tác và đăng báo " Bích Huyết Kiếm ".

Năm 1957 : Viết và đăng truyện " Xạ Điêu Anh Hùng "

Năm 1959 : Viết, đăng truyện " Tuyết Sơn Phi Hồ ", truyện dài rất ngắn của Kim Dung.

Giữa năm 1959, khởi viết " Thần Điêu Hiệp Lữ ", đến năm 1962 mới xong.

Năm 1960 - 1961 : Viết, đăng " Phi Hồ Ngoại Truyện "

Năm 1963 : Viết, đăng truyện " Liên Thành Quyết " ( hay " Tố Tâm Kiếm " ) trên Minh Báo (Hồng Kông ) và trên báo Đông Nam Á ở Singapore.

Cùng năm 1963, viết, đăng " Thiên Long Bát Bộ " ( hay Lục Mạch Thần Kiếm ) trên hai báo vừa kể.

Năm 1965 : Viết, đăng " Lộc Đỉnh Kư " trên Minh Báo.

Năm 1975: Viết, đăng " Việt Nữ Kiếm ", truyện Vơ hiệp ngắn nhất của Kim Dung.

Trong khoảng thời gian hai mươi năm từ 1950 đến 1970, ngoài các công việc của một phóng viên, biên tập viên, dịch các thông tin quốc tế, Kim Dung đă sáng tác 15 tập truyện Vơ hiệp rất dài - trừ Tuyết Sơn Phi Hồ và Việt Nữø Kiếm - theo thứ tự thời gian như sau :

1. Thư Kiếm Ân Cừu.
2. Bích Huyết Kiếm.
3. Tuyết Sơn Phi Hồ.
4. Phi Hồ Ngoại truyện.
5. Xạ Điêu Anh Hùng truyện.
6. Thần Điêu Hiệp Lữ.
7. Ỷ Thiên Đồ Long Kư.
8. Bạch Mă Khiếu Tây Phong ( 1960 ).
9. Uyên Ương Đao.
10. Liên Thành Quyết ( 1963 ).
11. Thiên Long Bát Bộ ( 1964-1968 ).
12. Hiệp Khách Hành ( 1965 ).
13. Việt Nữ Kiếm.
14. Tiếu Ngạo Giang Hồ.
15. Lộc Đỉnh Kư .
Trong đó số hai truyện Thiên Long Bát Bộ và Hiệp Khách Hành nổi bật sắc thái Phật giáo, các tập truyện khác cũng bàng bạc đó đây triết lư Phật giáo với Thiếu Lâm tự xuất hiện như một Vơ lâm Minh chủ.
Tại lễ đường của trường Đại học Bắc Kinh, ngày 27/10/1994, hơn 1000 sinh viên vui vẻ, hân hoan đón tiếp Kim Dung. Tại đây, một số câu hỏi đă được đặt ra :

Hỏi : " Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt quan niệm nhân sinh của ngài ? "

Đáp : " Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt quan niệm nhân sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư tưởng triết học Phật giáo. Phật giáo khá bi quan đối với nhân sinh, cho rằng đời người là bể khổ. Vô luận nhân sinh tốt đẹp đến thế nào, cuối cùng rồi cũng chết

Nhưng Phật giáo c̣n có quan niệm khác, tuy con người không tránh được cái chết, nhưng vẫn c̣n có lúc tái sinh, sau nầy có thể đời sống tốt hơn, có thể cống hiến được sức ḿnh, có thể giúp đỡ được người khác. Có thể nói rằng chân đế của Phật giáo về nhân sinh là sâu sắc nhưng giá trị thực dụng của triết học Phật giáo có thể hữu ích đối với cá nhân, c̣n đối với xă hội vị tất đă hữu ích ? "

( " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm,?tr.356 )

Hỏi : Phải chăng tiểu thuyết của ngài tuyên dương tư tưởng tôn giáo ?

Đáp : Đối với Phật giáo, tôi có phần tâm đắc, nhưng không có ư truyền giáo. Cách nh́n của tôi là, nếu anh gần với quan niệm tôn giáo nào đó th́ cần t́m hiểu nó, nếu không gần gũi th́ bất tất phải cố gắng truy cầu ... ( Ibid. tr.357 )

Bành Hoa và Triệu Kiến Lập th́ giới thiệu về Kim Dung rằng :

" Kim Dung rất phong độ, ông ta không hề bực bội với lời lẽ của tôi ( Lư Ngao ). Ông ta khiêm tốn giải thích quan điểm của ḿnh. Ông ta đặc biệt nhắc đến rằng từ sau khi con trai ông ta bất hạnh mất sớm, ông tập trung nghiên cứu Phật học, ông đă là một tín đồ trung thành của Phật giáo ... " ( Ibid. tr.326 )

Trong " Văn khố đại sư Văn học Trung Quốc, thế kỷ XX ,Tiểu thuyết quyển " đánh giá Kim Dung, xếp người vào vị trí thứ tư trong hàng chín bậc đại sư : Lỗ Tấn, Thẩm Ṭng Văn, Ba Kim, Kim Dung, Lăo Xá, Ức Đạt Phu, Vương Mông, Trương Ái Linh và Giả B́nh Ao. ( Ibid. tr.345 )

Tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung đă gây ra một tiếng vang rất xa, vang khắp các vùng Đông Nam Á từ lâu đến nỗi đă phát sinh ra hiện tượng nghiên cứu về Tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều khía cạnh gọi là Kim học hay Kim Dung học phát triển ở Hồng Kông, Đài Loan, và cả ở Bắc Kinh, đại để như :

- " Bách gia chư tử và Kim Dung ", Viễn Cảnh Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1984 ( của Thẩm Đăng Ân ).

- " Đọc Kim Dung t́nh cờ tâm đắc ", Thư Quốc Trị, Viễn Cảnh Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1982.

- " Thế giới dưới ng̣i bút Kim Dung ", Dương Hưng An, Bách Ích Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1983.

- " Kim Dung và Nghê Khuông ", Thẩm Tây Thành, Lợi Văn Xuất Bản Xă, Hồng Kông, 1984.

- Ở Trung Quốc ( đại lục ), đă có nhiều chuyên gia, giáo sư đại học viết bài giới thiệu hay b́nh luận, nghiên cứu Tiểu thuyết Kim Dung.

Tháng 2, 1986, Phùng Kỳ Dung trong bài " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đă viết về những ấn tượng khi ông đọc Tiểu thuyết Kim Dung rằng :

- " Thứ nhất : Lịch sử mà Tiểu thuyết Kim Dung bao hàm có nội dung xă hội sâu rộng rất nổi bật và rất hiếm thấy trong các tác gia tiểu thuyết vơ hiệp đương đại.

Thứ hai : Tư tưởng mà Tiểu thuyết Kim Dung đề cập có thể nói là đủ chư tử bách gia, tam giáo cửu lưu, hầu như bao gồm tất cả; c̣n về phương diện văn học th́ cả thơ, từ, ca, đối ngẫu, câu đối, khúc tử đều có đủ lại rất đắc địa, không hề g̣ ép khiên cưỡng, khiến cho người ta có cảm giác vốn liếng và khí lực của tác giả c̣n rất dồi dào sung măn.

Thứ ba : Trên phương diện nghệ thuật, một số nhân vật do Kim Dung sáng tạo rất nhiều h́nh tượng sinh động, thành công như Tiêu Phong, Trần Gia Lạc, Văn Thái Thái, Hoắc Thành Đồng, Quách Tĩnh, Hoàng Dung v.v... Đó là những h́nh tượng khó quên, có sức hấp dẫn rất mănh liệt. Có ai đọc những bộ Tiểu thuyết ấy mà không cảm động trước những h́nh tượng nghệ thuật như vậy.

Thứ tư : Ấn tượng đặc biệt sâu sắc của tôi ( tức Phùng Kỳ Dung ) là chất văn học trong Tiểu thuyết của Kim Dung: Nó khác hẳn tất cả tiểu thuyết vơ hiệp cũ lẫn tiểu thuyết vơ hiệp đương đại . Nó không những có ngôn ngữ trong sáng, tính văn học cao, hành văn lưu loát, uyển chuyển; mà cả thơ cả từ trong đó đều sử dụng rất khéo; điều quan trọng nữa là trong tác phẩm thường chan chứa ư thơ, đạt đến cảnh giới mỹ lệ. Theo cách nói quen thuộc, đó là một thế giới rất phong phú đa dạng, khiến người ta cảm thấy như đang sống trong thế giới ấy, cảm thấy được hưởng thụ nghệ thuật, một thứ mỹ cảm khiến người ta say sưa.

Thứ năm : Sự biến hoá của t́nh tiết nghệ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung như núi mọc lên đột ngột ngoài trời, đó là chỗ khiến người ta phải vỗ án khen tuyệt. Đang tưởng như " sơn cùng thủy tận " bỗng gặp đường lối mở ra, t́nh men theo cảnh, hợp t́nh hợp lư. Chính v́ thế mà người ta không sao rời sách, cứ phải đọc cho đến hết .

- Năm 1992, " Bách Hoa Châu Văn Nghệ Xuất Bản Xă " đă xuất bản cuốn " Phân Tích và Thưởng Thức Tiểu Thuyết Kim Dung "...

- Một số trường đại học nổi tiếng, đă có nhiều chuyên đề"Nghiên cứu Kim Dung "...

- Các tác phẩm từ " Thư Kiếm Ân Cừu Hận " đến " Lộc Đỉnh Kư " đă được giới điện ảnh làm thành phim nhựa ( ibid. tr. 265 - 267)

Về nhiệt t́nh chính trị của Kim Dung, Bành Hoa và Triệu Kiến Lập nhận xét : " Trong bộ tiểu thuyết này ( Thư Kiêm Ân Cừu Hận) ta có thể thấy Kim Dung đă thể hiện nhiệt t́nh chính trị của ḿnh : t́nh cảm dân tộc, ḷng yêu tổ quốc, cho đến lư tưởng an bang trị quốc, cứu đời cứu dân. Nhăn quan của Kim Dung rất chính xác " ( Ibid. tr.299 )

Ngày 16 tháng 7, năm 1981, được sự sắp đặt của chính quyền Trung Quốc, Kim Dung, phu nhân và con trai vào thăm đại lục, được Đặng Tiểu B́nh tiếp kiến, nhiều nhân vật cao cấp ở Quốc Hội và Chính Phủ tiếp xúc, trao đổi. Sau chuyến Bắc du dài, thăm mười Tỉnh và Thành phố trong nước, tại Hồng Kông, các phóng viên Minh Báo đă phỏng vấn, Kim Dung đă xác định và điều chỉnh lập trường chính trị và cái nh́n của ông về đại lục, phát biểu rằng :

" Thứ nhất, tôi tin rằng hiện nay ở Trung Quốc không có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế vị trí lănh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Thứ hai, tôi tin rằng Trung Quốc trong mấy mươi năm sắp tới không thể thực hành dân chủ theo kiểu phương Tây, mà dù có khả năng th́ chưa chắc đă có lợi cho đất nước và nhân dân.

Thứ ba, cá nhân tôi tán thành Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xă hội khai minh. Nói chung, so với thói quen phóng túng và sự phân hóa giàu nghèo thái quá trong xă hội tư bản chủ nghĩa th́ chủ nghĩa xă hội công bằng hợp lư hơn. Nhưng ở đại lục tự do của cá nhân c̣n hạn chế, Đảng Cộng Sản lănh đạo làm kinh tế hiệu suất c̣n thấp, chưa giải phóng được lực lượng sản xuất của nhân dân, tư tưởng và tác phong tả khuynh khá nghiêm trọng. Cá nhân tôi tán thành việc không ngừng cải cách từng bước, chứ không nghĩ rằng một cuộc cách mạng long trời lở đất có thể giải quyết được vấn đề " Tôi nhận thấy Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ Trung ương đến địa phương đă không c̣n khoa trương như trước mà phần nhiều nói về khuyết điểm của ḿnh, ít nói đến thành tích, điều nầy để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất ". ( Ibid. tr. 302 )

Nhận xét về chế độ, tổ chức xă hội ở Hồng Kông, nơi cư trú hơn hai mươi năm qua của Kim Dung, Kim Dung đánh giá :

"... Điều đáng quư nhất của Hồng Kông là tự do sinh hoạt, tinh thần pháp trị, sự phát triển kinh tế có hiệu suất và linh hoạt, có nhiều cơ hội cho con người, cái dở nhất của Hồng Kông là sự bất hợp lư, bất công b́nh của tự do tư sản cực đoan " ( Ibid. tr.303 )

Với khối óc và con tim lớn, từng trải qua các biến đổi của thời đại, thế kỷ XX, nắm vững thông tin thế giới, hẳn là Kim Dung đă chuyển tải qua các tiểu thuyết vơ hiệp của ḿnh nhiều quan niệm, tư tưởng, nhiều nhận xét đánh giá giá trị về xă hội hiện đại ( Trung Quốc và Thế giới ) và hẳn đă truyền vào đó những cái nh́n và ư tưởng chân xác về thái độ sống của các cá nhân, tập thể để xây dựng một cuộc sống công bằng, nhân ái và an lạc, hạnh phúc tốt đẹp nhất có thể. Thế nên, tiểu thuyết của ông đă có một hấp lực lớn quấy động các sạp báo Saigon, và cả Saigon, trong những năm của thập niên 60. Dân chúng nhiều giới đều hâm mộ đọc tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung. Không khí hâm mộ dấy lên như là không khí xem phim Tây Du Kư trên màn ảnh nhỏ của thập niên 80, TP Hồ Chí Minh. Tác giả tập sách này cũng bị cuốn hút theo làn sống hâm mộ có thể đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung liên tục nhiều ngày đêm không mệt mỏi, tưởng chừng như đang đi vào lục lọi túi khôn của nhân loại mà Kim Dung đă dốc cạn vào trong truyện.

Ngày nay, các học đường nhiều nơi đang lác đác nghiên cứu tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều phương diện, đang chuyển thành hiện tượng " Kim học " hay " Kim Dung học". Tại Việt Nam, 15 bộ tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung đang được Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội ấn hành từ năm 2001 :

- Anh Hùng Xạ Điêu, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Tiếu Ngạo Giang Hồ, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Ỷ Thiên Đồ Long Kư, 4 tập ( >= 700 trang ), 2002.
- Lộc Đỉnh Kư, 10 tập ( >= 300 trang ), 2002.
- Thiên Long Bát Bộ, 9 tập ( >= 300 trang ), 2003.
- Hiệp Khách Hành, 4 tập ( >= 250 trang ), 2003.

Điều nầy khiến người viết " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đi t́m lại các cảm xúc của ḿnh khi mải mê đọc vơ hiệp Kim Dung vào thập niên 60, đặc biệt là cảm xúc về Phật học, về Văn hoá và Giáo dục. Người viết chỉ có một nguyện vọng khiêm tốn là nói lên một tiếng nói trân trọng về những ǵ tốt đẹp mà Kim Dung đă cống hiến cho độc giả bốn phương.

Tác giả cẩn bút
Tỷ kheo Thích Chơn Thiện
Chùa Tường Vân, Huế

 

 

Phần I

I. Mở đầu 
1. Ấn bản đầu tiên năm 1965. Ấn bản năm 1977 có thay đổi một số t́nh tiết, khiến " Hiệp Khách Hành " trở nên chặt chẽ và ư vị hơn.
2. Đoạn kết của bản tu chỉnh kết thúc từ cảnh Thạch Phá Thiên thành công trong công phu giải bí kíp Thái Huyền Kinh, trở về Khô Thảo Lĩnh, núi Hùng Nhĩ, gặp "má má " Mai Phương Cô để lại niềm băn khoăn về gốc gác của chính ḿnh: " gia gia ta là ai? ", " má má ta là ai? ", " Ta là ai? ". Những câu hỏi, mà tập truyện là câu trả lời, làm dấy lên trong người đọc niềm thao thức khôn nguôi.

3. Bài cổ thi " Hiệp Khách Hành " của thi hào Lư Thái Bạch là bí kíp Thái huyền công cất giữ trên đảo Hiệp Khách. Nguyên văn bài cổ thi là:
" Triệu khách mạn hồ anh ; Ngô câu sương tuyết minh ;
Ngân yên chiếu bạch mă ; Tạp đạp như lưu tinh.
Thập bộ sát nhất nhân ; Thiên lư bất lưu hành ;
Sự liễu bất y khứ ; Thâm tàng thân dữ danh.
Nhàn quá Tín Lăng ẩm ; Thoát kiếm tất tiền hoành ;
Tương chích đạm Chu Hợi ; Tŕ khương khuyến Hầu Doanh.
Tam bôi thổ nhiên nặc ; Ngũ nhạc đảo vi khinh ;
Nhăn hoa nhĩ phục hậu ; Ư khí tố nghi sinh.
Cứu Triệu huy kim trụy ; Hàm Đan tiên chấn kinh ;
Thiên thu nhị tráng sĩ ; Huyền hách Đại Lương thành.
Túng thử hiệp cốt hương ; Bất tàm thế thượng anh ;
Thùy năng thư các hạ ; Bạch thủ Thái huyền kinh ".
Dịch nghĩa:
" Khách nước Triệu phất phơ giải mũ ; Kiếm ngô câu rực rỡ tuyết sương ;
Ngân yên bạch mă huy hoàng ; Vó câu vun vút như ngàn sao bay.
Cách mười bước giết người chẳng trật ; Ngh́n dặm xa vùng vẫy mà chi ;
Việc xong rũ áo ra đi ; Ẩn thân rừng núi kể ǵ tiếng tăm.
Rảnh lại nhớ Tín Lăng t́m đến ; Gươm gác đùi chuốc chén đầy vơi ;
Này nem, này rượu khuyên mời; Bên thời Châu Hợi, bên thời Hầu Doanh.
Ba chén cạn thân ḿnh sá kể; Năm núi cao xem nhẹ lông hồng ;
Mắt hoa mặt đă nóng bừng ; Khí hùng bay bổng lên từng mây xanh.
Chùy cứu Triệu vung tay khẳng khái; Thành Hàm Đan run rẩy kinh hoàng;
Ngh́n thu tráng sĩ hai chàng ;Tiếng tăm hiển hách rỡ ràng Đại Lương.
Người dù chết xương c̣n thơm ngát ; Chẳng hổ ngươi đáng mặt anh hào;
Ḱa ai ẩn náu trên lầu ; Chép kinh đến thuở bạc đầu chưa xong ".
4. Nguyên bản năm 1965 th́ không có lời hậu kư. Nguyên bản tu chỉnh năm 1977 th́ có lời hậu kư rằng:
"... Mọi cố gắng để chú thích và b́nh luận đều làm tổn hại đến bản ư của tác giả, lại c̣n tạo ra những trở ngại nghiêm trọng. Bộ Hiệp Khách Hành này viết 12 năm trước, đă diễn giải ư kiến này khá đầy đủ. Gần đây tôi đọc nhiều kinh Phật hơn, đối với ư nầy càng tâm đắc.

Kinh Bát Nhă của Đại thừa, Trung Quán luận của Long Thọ đều cực lực bài bác những luận giải phiền phức cho rằng các loại kiến thức chú giải đều do hư vọng sinh ra , chỉ làm trở ngại cho việc thấy đạo của người tu học. Khi tôi viết Hiệp Khách Hành nầy, tuy không thể nói là hoàn toàn không biết kinh Phật, nhưng chỉ mới đọc hết Kinh Kim Cang vào tháng 11 năm ngoái, tôi c̣n đọc Bát Nhă và Trung Quán lại c̣n mới hơn, mới Xuân Hạ năm nay.
 

Nhân duyên bên trong việc này, thật không thể nào giải thích được ".
Tháng 7, 1977.
Qua lời hậu kư của Kim Dung viết từ năm 1977, độc giả có thể h́nh dung ra một số điểm đáng lưu ư rằng:
- Các giải thích, giải mă, b́nh luận của nhiều ư kiến đương thời đều rơi vào các định kiến, giữa khi ư của tác giả, trong truyện, th́ phù hợp với giáo lư nhà Phật, phù hợp với vô ngă và vô chấp.

- Lúc sáng tác Hiệp Khách Hành, 1965, Kim Dung nh́n nhận bấy giờ chưa đọc nhiều kinh điển Phật giáo, nhưng vốn tâm đắc giáo lư nhà Phật, có nghĩa là có cái nh́n nhân sinh và thế giới phù hợp với tinh thần Phật học. Lúc tu chỉnh, 1977, tác giả đă đọc kỷ Kinh Kim Cương, tạng Bát Nhă, Trung Quán Luận.

Thực sự từ 1967, người viết " Bàn về Tiểu thuyết vơ hiệp Kim Dung ", một tu sĩ Phật giáo, đă thấy rơ ảnh tượng Kinh Kim Cương khắp bốn tập truyện Hiệp Khách Hành, đă cùng các pháp hữu sôi nổi trao đổi cảm nhận ở ngoài hành lang của giảng đường Phật học Vạn Hạnh. Hẳn là có chút băn khoăn về phần kết của truyện. Nay th́ phần ấy đă được tu chỉnh rất gọn.

- Do v́ Kim Dung tâm đắc với Phật giáo nên cái nh́n của tác giả, qua toàn truyện, toát ra nhiều hương sắc Phật giáo. Đây là phần khảo sát của người viết, không đi vào các hàm ư giá trị khác.
  

 

 

Phần 2

Hồi 1: Huyền Thiết Lệnh

A. Tóm tắt hồi 1

- Tạ Yên Khách, một quái kiệt giang hồ, sinh thời đă tặng cho ba đại ân nhân ba tấm Huyền Thiết Lệnh, mỗi tấm Thiết Lệnh có thể yêu cầu Tạ Yên Khách làm bất cứ một việc ǵ dù khó khăn, nguy hiểm. Tạ Yên Khách đă thu về hai tấm và đă làm hai việc chấn động giang hồ. Tấm thứ ba tặng cho một đại hiệp mà có lẽ trọn đời vị đại hiệp sẽ không dùng đến. Không may vị đại hiệp đánh rơi Thiết Lệnh. Thế là giang hồ tranh nhau t́m đoạt, bao gồm cả chủ nhân Tạ Yên Khách: nhóm Kim Đan Trại, nhóm kiếm sĩ Tuyết Sơn, hai hiệp khách Thạch Thanh, Mẫn Nhu, v.v...

- Kiếm sĩ Ngô Đạo Thông đang cất giữ Huyền Thiết Lệnh nầy và trở thành kẻ địch của thiên hạ. Ngô Đạo Thông vừa nuôi tham vọng nhờ cậy Tạ Yên Khách, vừa hoá trang để che mắt: làm một ông già bán bánh Tiêu ở trị trấn Hầu Giám Tập: đao kiếm đẫm máu đă xẩy ra vào một buổi hoàng hôn... Bấy giờ có một bé ăn xin Cẩu Tạp Chủng đi lang thang t́m mẹ, kẹt giữa " trận chiến " đao kiếm, t́nh cờ nhặt được chiếc bánh tiêu bên vệ đường để ăn, chiếc bánh mà Ngô Đạo Thông cất giữ Thiết Lệnh.

- Tạ Yên Khách t́m thấy Thiết Lệnh từ chiếc bánh tiêu của Cẩu Tạp Chủng trước sự chứng kiến của nhiều kiếm khách. Theo lời hứa, Tạ Yên Khách phải bảo vệ cậu bé, và phải làm theo một yêu cầu của bé, nhưng bé th́ vâng theo giáo huấn của "má má " ở Hùng Nhĩ, trọn đời sẽ không mở miệng xin ai một điều ǵ. Do vậy, Tạ Yên Khách phải giữ cậu bé cạnh ḿnh, không rời một bước, sợ bị người xấu xúi giục yêu cầu điều khó thực hiện, và chờ đợi cơ hội để đánh lừa bé...
- Tạ Yên Khách đem Cẩu Tạp Chủng về sống cách ly trên đỉnh núi Ma Thiên Nhai cô vắng.

B. Ư kiến

1. Hiệp sĩ, hay hiệp khách, là người thường cứu giúp người, cứu giúp đời, thoát khỏi các áp bức , bất công. Xa hơn, Hiệp khách c̣n trừ khử các cường tặc, các tham quan ô lại để bảo vệ dân lành, bảo vệ các quan trung chính v́ nước, v́ dân. Nhân vật chính của truyện kiếm hiệp v́ thế đầy tiết khí, hấp dẫn người đọc. Kim Dung đă mượn tiểu thuyết kiếm hiệp như là phương tiện tốt nhất để chuyên tải tư tưởng, tâm sự, cảm xúc, tiết khí của ḿnh đối với nhân quần và quốc gia xă hội, xây dựng một hệ văn hoá đầy tính nhân văn và trí tuệ.

2. Nền văn hoá nào cũng nói về điều thiện, đề cao điều thiện, nhưng quan niệm về lẽ thiện th́ có điểm khác nhau. Kim Dung nói:
" Bậc thông minh tài trí, kẻ hùng cường dũng cảm đại đa số đều tích cực tiến thủ. Tiêu chuẩn đạo đức đă chia họ ra làm hai loại người: mưu cầu hạnh phúc cho nhiều người, đó là người tốt; chỉ chú ư đến quyền lợi và địa vị, dục vọng của riêng ḿnh mà làm hại người khác, đó là người xấu. Mức độ tốt xấu căn cứ vào mức độ họ đem lại hạnh phúc hay gây tai họa cho người khác để xác định ".

3. Về quan niệm về Truyền thống, giáo sư triết Lư Đỗ, trong dịp thảo luận với Kim Dung tại Đại học Tân An, Hồng Kông, đă hỏi:
" Tôi đọc Ỷ Thiên Đồ Long Kư, Tiếu Ngạo Giang Hồ, v.v... Tôi đoán, phải chăng tiên sinh cảm thấy văn hóa của chúng ta phát triển đến ngày nay, những cái tốt đẹp của truyền thống đă rơi rụng mất rồi, cần phải t́m ở bên ngoài, như vậy hơi có ư vị phủ định truyền thống ,"
Kim Dung đáp:
" Có mấy bộ tiểu thuyết, xuất phát điểm của tôi lúc ấy là phủ định cách nghĩ giáo điều chủ nghĩa. Tôi tín phục lư tính... Tôi nghĩ bản thân chân lư cũng có tính tương đối của nó. Xă hội biến thiên, chân lư cũng có thể thay đổi. Đạo lư ngàn vạn năm bất biến, đó là điều mà tôi không tin. Sự thực, những kẻ cuồng tín rất nhiều, thậm chí trong lănh vực khoa học cũng có, những lư thuyết khoa học đă từng được người ta cho là chân lư nhưng rồi lại hóa ra không hoàn toàn đúng ".

4. Về quan niệm Nhân quả - Nghiệp giản đơn ở đời, như " ở hiền th́ gặp lành, ác giả ác báo " - khác với nhân quả ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai: sanh báo, hậu báo và laibáo, của Phật giáo th́ Kim Dung nghĩ khác hơn:
" Tôi muốn mượn tiểu thuyết để phản ảnh nhân sinh. Ở đời không nhất thiết ' ở hiền gặp lành, ác giả ác báo '. Cuộc đời thật ra rất phức tạp, số phận cũng thiên biến vạn hóa. Nếu cứ theo mô thức nhất định mà mô tả th́ quá giản đơn hóa cuộc đời. Cờ vây có công thức nhất định mà nhân sinh th́ không có định thức. Đem Kinh kịch để biểu hiện nhân sinh th́ thường định thức hóa, chức năng nghệ thuật của Kinh kịch thường thiên về giáo huấn, khó ḷng thể hiện chân thực đời sống ". (Ibid.tr.330)

Các điểm vừa nêu trên, từ mở đầu, là ánh sáng rọi vào " Hiệp Khách Hành " để người viết nhận ra tư duy mới và tư tưởng Phật học của Kim Dung.

5. Các nhân vật trong Hồi 1 biểu hiện các mẫu h́nh tâm lư về thiện, ác, bất định ở nhiều cấp độ, như:
- Tạ Yên Khách là một quái kiệt vơ lâm bất câu thiện, ác, đă tặng ba tấm Huyền Thiết Lệnh và hứa sẽ làm theo một yêu cầu của người có Thiết Lệnh, nhưng khi một tấm rơi vào tay cường đạo, ông ta đă bằng mọi thủ đoạn để đoạt lại tấm Thiết Lệnh ấy. Ông thuộc loại mẫu tâm lư bất định.
- Nhóm Kim Đao Trại th́ hung hăn, đầy ham muốn vị kỷ, xem mạng sống của tha nhân như cỏ rác: nhóm nầy thuộc tâm lư xấu ác.
- Thạch Thanh - Mẫu Nhu suốt đời trọng nghĩa, làm việc nghĩa giúp người: thuộc tâm lư thiện, tốt.
- " Má má " của Cẩn Tạp Chủng do hận t́nh mà một lần đă gia hại gia đ́nh Mẫn Nhu: theo tâm lư Phật giáo, nàng thuộc hạng tâm lư si và hận, thuộc ác tâm, hại tâm...
- Tên giúp việc trong tiệm tạp hóa quen thói " lư sự cùn ", khi nghe một tay đao kiếm hung hăn nói: " C̣n ai muốn nếm mùi đao th́ cứ việc chạy ra ". liền buột miệng bép xép: " Đao th́ làm ǵ có mùi?" liền bị tên hung hăn vung roi giật bắn người ra đường chết toi. Cái chết rẻ rúng, lạt nhách như thế là sự cảnh tỉnh cái thói quen hư đàm, huyền luận vô bổ.
- Cẩu Tạp Chủng là mẫu tâm lư thuần thiện: trong sáng, chân thật rất nguyên sơ, thông tuệ, nhân ái. Đây là mẫu tâm lư mà Kim Dung xây dựng niềm tin phát triển sẽ đi về chân, thiện, mỹ: chàng sống vô cầu, vô dục từ thân phận kẻ ăn xin, rồi đời sống dẫn dắt đến điểm nhặt được Huyền Thiết Lệnh, thân cận quái khách, đi vào phương trời mới.

Qua Hồi 1, người đọc có cảm nhận rơ: ai sống thiểu dục tri túc th́ tốt đẹp cho bản thân và xă hội; sống đa dục, vị kỷ th́ làm khổ ḿnh, khổ người, thể hiện triết lư sống của nhà Phật.
 

 

Hồi 2: Thiếu niên gây đại họa

A. Tóm tắt hồi 2

- Hai hiệp Khách Thạch Thanh và Mẫu Nhu kư thác con trai là Thạch Trung Ngọc làm môn nhân của kiếm phái Tuyết Sơn. Năm 15 tuổi, Thạch Trung Ngọc là một thiếu niên năng động, láu lỉnh, đa t́nh, hay chọc ghẹo A - Tú, 13 tuổi, con gái của Bạch Vạn Kiếm (Cháu nội của bang chủ Tuyết Sơn); A Tú chưa bị hạ nhục, nhưng tức ḿnh tự vẫn (được kể lại). Mẹ nàng bị trách cứ, và v́ thương con mà sanh cuồng trí. Phong Vạn Lư, thầy dạy kiếm của Thạch Trung Ngọc, bị bang chủ tức ḿnh chặt đứt một cánh tay. Bang chủ phu nhân bị vạ lây, bỏ Tuyết Sơn ra đi. Hai người sư thúc khác của Thạch Trung Ngọc bị Đinh Bất Tam giết v́ lư do khác cũng được kết vào tội do lỗi Thạch Trung Ngọc gây ra. Từ đó Bạch Vạn Kiếm dẫn một toán kiếm sĩ hạ sơn t́m kiếm Thạch Trung Ngọc để giết, và đốt Thạch gia trang để rửa hận.
- Bạch Vạn Kiếm đ̣i Thạch Thanh - Mẫn Nhu đến gặp bang chủ Tuyết Sơn (Bạch Tự Tại) để nhận trách nhiệm làm cha làm mẹ. Giọc đường cả toán Tuyết Sơn bị Tạ Yên Khách tấn công thu hết kiếm, lại vô minh chồng chất, kết oán cho rằng Thạch Thanh và Mẫn Nhu ám hại họ.

B. Ư kiến

1. Ở tuổi 15, Thạch Trung Ngọc chỉ là một thiếu niên " quậy phá ", trêu chọc A Tú, dễ dàng được các vơ sư, kiếm sĩ uốn nắn, nhất là khi A Tú suưt bị hại. Vậy mà gia đ́nh bang chủ Bạch Tự Tại đă để ḿnh rơi vào một số sai lầm mà giáo lư nhà Phật gọi là vô minh:
- Có các người ganh ghét và đố kỵ Thạch Trung Ngọc (do v́ Thạch Trung Ngọc có bố mẹ thân t́nh với bang chủ, giàu có và tiếng tăm) đă dựng chuyện thêu dệt, chuyện bé xé ra to.
- Có những bàn tay quái nghịch trong bóng tối như Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, A Đang nhúng tay vào khiến cho sự việc rối rắm.
- Quan niệm sai lầm về giá trị " đứng đắn ", " tiết trinh ", đức hạnh " của người con gái của gia đ́nh Bạch Tự Tại đă " đổ dầu vào lửa " cho sự việc cháy bùng, đáng tiếc!
- Các tướng trạng, hay các sự kiện, biểu hiện do rất nhiều nguyên nhân xa, gần tác động, nhưng " vô minh " đă giục gia đ́nh Bạch Tự Tại quy tội về cho Thạch Trung Ngọc, một ḿnh Thạch Trung Ngọc.
- Từ nh́n sai sự việc, dẫn đến hành động sai lầm; các hành động sai lầm dẫn đến sự kết nối sai lầm dây chuyền. Hầu như Kim Dung đang phô diễn cái hư huyễn của các tướùng trạng, và cái nguy hại của các tâm lư xấu của con người mà Kinh Kim Cang nhà Phật gọi là " Các tướng trạng đều không thật " (" Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng ")

2. Cục diện Tuyết Sơn khởi đầu rối rắm do nh́n sai, thấy sai và nghĩ sai: thuật ngữ Phật giáo gọi là tà kiến và tà tư duy ; từ đó kéo theo các sai lầm khác như báo cáo sai (tà ngữ), hành động sai (tà nghiệp), tưởng nghĩ sai (tà niệm), nỗ lực giải quyết sai (tà tinh tấn) do thiếu sáng suốt, định tỉnh (tà định). Tại đây Kim Dung bắt đầu gợi mở ra nếp sống, nếp văn hóa "Bát Chánh Đạo" của Phật giáo: nếp sống của sự đúng đắn, ổn định.

3. Cảnh tượng Cảnh Vạn Chung của Tuyết Sơn chạm vào nội lực của Thạch Thanh mới nhận ra nội lực quá yếu kém của ḿnh, sợ hăi đến toát mồ hôi lạnh: sự việc nầy các người chung quanh không nhận ra, rằng giá trị của sức mạnh của một kiếm khách nằm ở nội lực, mà không ở bên ngoài kiếm thuật. Cũng vậy, giá trị của một hành động là dựa vào cái tâm tác động lên hành động (tốt xấu)...) mà không nằmở bên ngoài của biểu hiện hành động. Đây là nội dung định nghĩa chữ Nghiệp (Karma) của nhà Phật.

4. Thạch Thanh và Mẫn Nhu là hai đại hiệp khách chân chính mà liên tục gặp tai ương: con, Thạch Trung Ngọc bị nạn; Thạch Gia Trang bị đốt; các gia nhân của Thạch Gia Trang bị khốn đốn; một đứa con trai khác, Thạch Trung Kiên, bị " Mai Phương Cô " (t́nh địch) bắt đi mất tích từ năm lên một. Đây là trường hợp ở ngoài sự thật " ác giả ác báo, ở hiền gặp lành " mà người đương thời tin tưởng.

5. Đời sống th́ dẫy đầy các tác nhân vô thường, bất định:
- Các sân hận th́ phản ứng đột ngột, tai hại bất định, khó lường.
- Các tâm lư tham th́ hành động âm thầm, mưu thâm đầy nguy hiểm.
- Các tâm lư bất định hành động tùy hứng như Tạ Yên Khách, Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, A Đang... th́ khó lường. Giữa môi trường sống đó th́ con người dễ mắc vào các tai họa, rủi ro không do ḿnh gây ra. Đây là nỗi khổ vô thường, theo Phật học, gắn chặt với thân phận con người ở ngoài mọi " logic ".

Chỉ có sự thuần túy thuật chuyện về một hồi truyện ngắn của Kim Dung đă ảnh hiện rất nhiều điểm về Phật học, rất ư vị!

 

 

Phần 4

Hồi 3: Ma Thiên Nhai

A. Tóm tắt hồi 3

- Tạ Yên Khách thu hồi được Huyền Thiết Lệnh từ Cẩu Tạp Chủng ; sợ nguy hại đến tánh mạng nếu có người xúi giục Cẩu Tạp Chủng yêu cầu Tạ Yên Khách tự vẫn hay phế bỏ vơ công, nên ông đă đem Cẩu Tạp Chủng từ thị trấn Hầu Giám Tập về sống trên đỉnh Ma Thiên Lĩnh, ngày đêm giám sát cậu bé.
- Trên đường đi, Tạ Yên Khách dùng đủ mưu mô dụ dỗ, uy hiếp buộc Cẩu Tạp Chủng cầu xin ông một điều ǵ cho làm xong lời hứa, nhưng cậu bé th́ tuyệt nhiên không mở miệng cầu xin bất cứ ai một điều ǵ. Đây là lư do mà cậu bé được sống lâu dài bên cạnh quái khách Tạ Yên Khách trên Ma Thiên Lĩnh để hầu hạ ông ta và luyện tập bí pháp "La hán phục ma thần công ".
- Trên đường đi, chứng kiến ba cao thủ Trường Lạc bang đang uy hiếp, bức tử Đại bi lăo nhân, Cẩu Tạp Chủng nổi tâm nghĩa hiệp, lên tiếng bảo vệ lăo nhân mà không sợ liên lụy. Bấy giờ th́ lăo nhân đă kiệt sức, sắp trút hơi thở cuối cùng, cảm nghĩa cậu bé bèn cho cậu pho tượng đất gồm 18 tượng La hán trong túi của ông ta. Đây là pho bí pháp " La hán phục ma thần công " do các thần tăng Thiếu Lâm sáng tác và để lại.
- Tạ Yên Khách bèn nghĩ ra một kế kín đáo hại chết Cẩu Tạp Chủng bằng cách chỉ dạy cho Cẩu Tạp Chủng luyện tập bí pháp trên pho tượng, không theo thứ tự, để tẩu hỏa nhập ma. Nhưng Cẩu Tạp Chủng không có tạp niệm nên không bị tẩu hỏa trong thời gian dài luyện công. Cuối cùng th́ luyện xong 18 đường dương công và 18 đường âm công, sắp đến thời điểm thành tựu một vơ công " siêu thế "

B. Ư kiến

1. Cẩu Tạp Chủng là trẻ thuần lương, thông tuệ là nhân vật chính sẽ mở ra bí kíp Thái Huyền Kinh, mở ra chân lư, lại từ năm một tuổi lớn lên ở Khô Thảo Lỉnh, một đỉnh núi cô vắng, xa thế sự, một đỉnh núi của các loài cỏ khô; rồi năm 13 tuổi đến sống trên đỉnh Ma Thiên Nhai, cũng cô vắng, lạnh lùng của " phương trời ma quái " (Ma Thiên Nhai) và nội lực phát triển, trưởng thành ở đây. Hệt như giải thoát phải đến từ khổ đau; chân lư vượt ra từ cơi tà vạy: phải hiểu rơ khổ đế (sự thật của khổ) mới thấy con đường đi ra khỏi khổ, đến với giải thoát (diệt đế) của giáo lư nhà Phật.

2. Sự thật Tạ Yên Khách dấu mặt lấy đi hai thanh bảo kiếm của Thạch Thanh và Mẫn Nhu mà nhóm Tuyết Sơn đang giữ làm tin, khiến nhóm nầy quả quyết rằng đây là mưu gian của Thạch Thanh và Mẫn Nhu.
- Sự kiện " má má " đặt tên Cẩu Tạp Chủng khiến Tạ Yên Khách nghĩ rằng " má má " Mai Phương Cô bị chồng theo gái, bỏ rơi.

Hai sự kiện đó nói lên ư nghĩa: Kinh nghiệm thường nghiệm và tư duy logic rất dễ lầm lẫn: nó đúng mà không thật. Ở nhà Phật th́ chân lư là cái ǵ vừa đúng (chân) và vừa thật (như) gọi là chân như.
3. Tạ Yên Khách và Cẩu Tạp Chủng là hai h́nh ảnh văn hóa tương phản:
- Tạ Yên Khách th́ bận tâm về giá trị h́nh thức " quân tử ", " trượng phu ", mà hành xử lại bá đạo.
- Cẩu Tạp Chủng tự xem là phàm phu mà hành xử chân chất, hiền thiện, thể hiện đạo lư của Thánh hiền: " Hợp nội ngoại chi đạo " của Đại học.

H́nh ảnh của chàng gợi lên ở người đọc một chút ǵ ngậm ngùi khi nh́n lại giá trị h́nh thức của nền văn hoá cũ.

4. Tạ Yên Khách đi vào giang hồ lâu ngày đă đánh mất cái tính chân chất thuần phác như được thể hiện ở con người Cẩu Tạp Chủng. Đây là ư nghĩa của " Tánh tương cận, tập tương viễn " mà đạo đức mang màu sắc Phật giáo ở Cẩu Tạp Chủng (tẩy sạch tâm lư cấu uế) có thể làm sống lại ư nghĩa " cận đạo ":
- Ở Tạ Yên Khách, cái " ta " (tự ngă) và cái " của ta " được phát triển mạnh.
- Ở Cẩu Tạp Chủng, cái " ta " và cái " của ta " th́ vắng mặt một cách tự nhiên.

Hai h́nh ảnh văn hóa tương phản ấy đă mở ra một cuộc đối thoại dài của Hồi truyện thứ ba, rất triết lư: Kim Dung đang nói triết lư bằng ngôn ngữ kiếm hiệp đầy thú vị. Thử nghe lại một mẫu đối thoại ngắn giữa hai người ấy:
" Gă ăn xin ăn xong cái này lại lấy cái khác, ăn hết thảy bốn cái bánh bao mới nói: "Cháu no rồi, không ăn nữa '.

Tạ Yên Khách ăn hết hai cái bánh rồi thôi, quay lại hỏi chủ quán:
- ' bao nhiêu tiền '
Chủ quán đáp:' Hai đồng một cái. Cả thảy sáu cái, cộng lại là mười hai đồng '

Tạ Yên Khách đáp: ' Không được. Phần ai ăn người ấy trả tiền. Ta ăn hai tấm, vậy ta trả bốn đồng là đủ.

Lăo tḥ tay vào bọc toan móc tiền ra trả, nhưng sờ đi sờ lại mà chẳng c̣n một đồng nào... Trong lúc Tạ Yên Khách chưa biết giải quyết cách nào, th́ gă ăn xin đă móc trong bọc ra một thỏi bạc, đưa cho chủ quán nói: ' Tất cả mười hai đồng, để cháu trả cho '.

Tạ Yên Khách chưng hửng hỏi: ' Sao? Ngươi lại trả tiền cho ta ư?'

Gă ăn xin cười đáp: ' Ông không có tiền mà cháu có, cháu mời ông ăn mấy cái bánh bao phỏng có chi đáng kể? '. Chủ quán cũng lấy làm kinh ngạc, lấy mấy miếng bạc vụn và mấy xâu tiền đồng thối lại. Gă ăn xin thu tiền cất vào bọc, rồi nh́n Tạ Yên Khách xem lăo sai bảo ǵ.

Tạ Yên Khách bất giác nở một nụ cười chua chát, nghĩ thầm: ' Tạ mỗ cố chấp thành tính, trước nay dù là một miếng cơm, một ly nước cũng chẳng chịu ơn ai, không ngờ hôm nay lại để một gă ăn xin mời ăn hai cái bánh bao... ' (tập I.tr.92-93)

Nụ cười chua chát ấy của Tạ Yên Khách là nụ cười về tinh thần bảo thủ, cố chấp của một nét văn hóa cũ!

5. Nếp văn hoá ở núi Hùng Nhĩ của Mai Phương Cô " má má ", h́nh như có sự hiện diện của bồ tát Quán Thế Âm, trí tuệ vô ngă và ḷng từ bi cứu khổ, đă để lại ảnh hưởng trong tâm thức hồn nhiên của Cẩu Tạp Chủng khi Cẩu Tạp Chủng phát ngôn rằng:
" Gă ăn xin đáp: Sao lại ăn cắp? Vừa rồi một vị thái thái giống Quan Âm áo trắng đă cho cháu " (tr. 94)
và:" Ông ăn táo đi! Ông (chỉ Tạ Yên Khách) không phải là người, cũng không phải ma quỷ, chẳng lẽ lại là Bồ Tát? Nhưng cháu thấy cũng không giống " (tr. 97).

Nét văn hóa Phật giáo nhẹ nhàng ấy dần dần in đậm vào tâm thức Cẩu Tạp Chủng, trước khi khởi động công phu " La hán phục ma thần công ", để thành tựu việc khai mở chân lư của Thái Huyền Kinh trên đảo Hiệp Khách!

6. Ư Nghĩa biểu tượng của 18 tượng La hán:

Trong Phật giáo, La hán là hàng đệ tử Đức Phật đă hàng phục được ḷng tham dục cơi Dục, cơi Sắc và cơi Vô sắc, và hàng phục được sự đắm trước (chấp thủ) ḷng dục, thấy biết, giới luật sai lầm, và các học thuyết chủ trương có tự ngă (dù dưới bất cứ dạng thức nào). Kinh Phật dạy có 18 ḍng Ái (và Thủ) liên hệ nội tâm, và 18 ḍng Ái (và Thủ) liên hệ ngoại cảnh:

Liên hệ nội tâm: Khi nào có ư niệm ta có mặt th́ sẽ có những tư tưởng: ta có mặt trong đời này; ta có mặt như vậy, ta có mặt khác như vậy; ta không thường hằng; ta thường hằng; ta phải có mặt không? ta phải có mặt trong đời này không? ta phải có mặt như vậy; ta phải có mặt khác như vậy; mong rằng ta có mặt; mong rằng ta có mặt trong đời này; mong rằng ta có mặt như vậy; mong rằng ta có mặt khác như vậy; ta sẽ có mặt; ta sẽ có mặt trong đời này; ta sẽ có mặt như vậy; ta sẽ có mặt khác như vậy.

Liên hệ ngoại cảnh: Khi nào có tưởng: ' Do cái này, ta có mặt; th́ sẽ có các tư tưởng: do cái này, ta có mặt trong đời này (tương tự trên)

(Tăng chi kinh, II, PTS, London, 1992, tr.226)

Nội dung của 18 ḍng Ái (Thủ) trên là nội dung của Tập đế (nguyên nhân của khổ) trong Tứ Diệu đế của Phật giáo (được biểu tượng qua chuổi hạt tay 18 hạt hay 36 hạt).

Đại bi lăo nhân tặng cho Cẩu Tạp Chủng 18 Tượng La hán là trao cho công phu loại trừ hết thảy các loại chấp thủ ngă tưởng mà Kinh Kim Cang Bát Nhă của Đại thừa Phật giáo đă đề cập, bao gồm tám loại: ngă tưởng, nhân tưởng, chúng sanh tưởng, thọ giả tưởng, pháp tưởng, phi pháp tưởng, tưởng và phi tưởng:
- Ngă tưởng: tin tưởng có mặt một tự ngă khác với năm uẩn như khi nói: cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngă của tôi.
- Chúng sinh tưởng: tin tưởng có một cá thể độc lập, liên tục và đồng nhất với chính nó qua thời gian; cá thể đó phân biệt các phần tố bên trong cá thể khác biệt với những ǵ ở bên ngoài.
- Thọ giả tưởng: tin tưởng có một sức mạnh hợp nhất và sinh động bên trong cá thể, tồn tại từ khi sinh cho đến khi chết.
- Nhân tưởng: tin tưởng có một thực thể thường hằng, luân hồi, tái sinh từ kiếp nầy qua kiếp khác.
- Pháp tưởng: tin tưởng có sự hiện hữu thật sự của các pháp độc lập.
- Phi pháp tưởng: (không pháp tưởng): tin tưởng có không pháp độc lập với hiện hữu
- Tưởng: Tưởng thường quyết định tính chất cho sự vật vốn không có trong thực tế.
- Phi tưởng: nếu biết tưởng là không thật mà chủ trương không có tưởng, không tác tưởng-các bậc Thánh, Bồ Tát vẫn tác tưởng mà vẫn giác tỉnh vô ngă, vẫn không chấp thủ.

Đây là công phu tu tập chủ yếu của Phật giáo nói chung, và Kim Cang Bát Nhă nói riêng.

7. Tu tập công phu loại trừ các tưởng tự ngă:
- Bước đầu hành giả cần tẩy sạch các tâm lư cấu uế, bất thiện như tham lam, sân hận, si ám, đố kỵ, kiêu mạn, dối gạt, ác hại, v.v? nếu không th́ không thể tu tập thành tựu các tâm thiền định ở bước thứ hai.

Đây là nội dung mà Kim Dung giới thiệu Cẩu Tạp Chủng với tâm lư trong sáng, giản đơn, không có thất t́nh, lục dục, hành " La hán phục ma thần công " dễ dàng thành tựu, không bị tẩu hỏa, như Tạ Yên Khách đă nhận xét:
" Thằng bé này đầu óc chưa được mở mang, chuyện đời hoàn toàn không biết, trong ḷng không có tạp niệm, v́ thế mới không bị tẩu hỏa nhập ma "(tr. 136)

Công phu " La hán phục ma " quả là công phu giáo dục các tâm hồn, các cá nhân cho một xă hội đạo đức, nhân ái, đầy t́nh người!
 

 

Phần 5

Hồi 4: Bang chúa rừng Lạc bang

A. Tóm tắt hồi 4

-Tại Ma Thiên Lănh, Cẩu Tạp Chủng vừa luyện xong 18 đường âm công và 18 đường dương công của " La hán phục ma thần công ", do không biết điều ḥa kinh mạch âm dương nên bị "tẩu hỏa", may kịp lúc Bối Hải Thạch, và thêm các đại cao thủ Trường Lạc bang, xuất hiện cứu cấp, tạm thời qua được cơn nguy cấp ; Bối Hải Thạch lầm tưởng Cẩu Tạp Chủng là Thạch Phá Thiên, bang chủ, nên rước về điều dưỡng ở cung Trường Lạc.
- Tại cung Thường Lạc, Bối Hải Thạch tiếp tục trị liệu mỗi ngày. Đinh đỉnh Đang đang, người t́nh của Thạch Phá Thiên, cho uống Huyền Băng Bích Hỏa Tửu (loại rượu rất trân quư của vơ lâm, dùng để tŕ hoăn lại sự tương giao của hai luồng khí âm dương trong nội thể), nên Cẩu Tạp Chủng hồi tỉnh.
- Vào lúc hai luồng âm dương khí dâng đầy ở huyệt Đản Trung (giữa ngực) th́ Triển Phi hương chủ, kẻ thù bị cướp vợ của Thạch Phá Thiên, xuất hiện đánh một chưởng mạnh vào huyệt Đản Trung để kết liểu đời Thạch Phá Thiên. Không ngờ, chưởng nầy đă giúp Cẩu Tạp Chủng điều ḥa được khí huyết, thành tựu thần thông " La hán phục ma " lên đến đỉnh điểm. Triển Phi hương chủ th́ bị phản lực mà bị gảy một cánh tay và trọng thương.

Cẩu Tạp Chủng, với từ tâm, vô hại tâm, đă bao che cứu tội và trị thương cho Triển Phi.

Thật là sự lạ đầy kinh dị!

B. Ư kiến

1. Lạc bang là từ ngữ Phật học chỉ cơi nước của Đức Phật A-Di-Đà. Ở đó, vắng mặt mọi thứ khổ đau, măi măi hạnh phúc, yên vui nên gọi là Trường Lạc.

Bối Hải Thạch và các Hương chủ bang nầy th́ bản chất hành ma đạo. Do v́ tránh nạn dự hội yến Lạp Bát ở Hiệp Khách đảo nên tráo dựng bang chủ Thạch Phá Thiên; sau khi Thạch Phá Thiên (Thạch Trung Ngọc) ẩn trốn, Bối Hải Thạch lại mạo dựng Cẩu Tạp Chủng.

Thật là ư vị! tâm chân của Cẩu Tạp Chủng lại cần được nuôi dưỡng, phát triển tại ma xứ nầy!

2. Cẩu Tạp Chủng: sức mạnh của vô dục,vô chấp:
- Bản tính của Cẩu Tạp Chủng là minh mẫn, chân thật, thuần lương, vô dục và không chấp nệ các thị phi.
- Mọi người đều lầm chàng là Thạch Phá Thiên (trừ Bối Hải Thạch sau khi điều thương cho chàng) và bày tỏ thái độ tương hệ khác nhau: Cùng một đối tượng mà mỗi người ở vị trí khác nhau th́ nh́n khác nhau. Cả tự thân Cẩu Tạp Chủng cũng không thật sự biết rơ gốc gác của ḿnh, chỉ lờ mờ chàng là chú bé ở đỉnh Hùng Nhĩ, đùa giỡn với chó A-hoàng.

Nhờ có tâm lư vô dục, vô chấp ấy, Cẩu Tạp Chủng đă thành tựu không khó khăn thần thông siêu đẳng của " La hán phục ma ". Bước thành tựu c̣n tiến xa, xa nữa khi chàng không chấp thủ cả kết quả thành tựu. Khi Bối Hải Thạch nói:

" Chúc mừng bang chúa! Thần công cái thế của bang chúa đă luyện thành rồi "

Cẩu Tạp Chủng đă hồn nhiên hỏi lại:
" Cái ǵ... cái ǵ là cái thế thần công? "

Đây, thực sự là ngôn ngữ của Kinh Kim Cang khi diễn đạt sự chứng đắc bốn Thánh quả: Tu-đa -hoàn, Tư-đà-hàm , A-na-hàm, và A-la-hán:
" Đức Phật hỏi:' Này Tu-bồ-đề, ư ông nghĩ sao, vị Tu-đà-hoàn có nghĩ rằng: Ta đă chứng đắc Tu-đà-hoàn quả chăng?-Tôn giả Tu-bồ-đề đáp: Quả thật không, bạch Thế Tôn. Tại sao? Bởi v́, bạch Thế Tôn vị ấy không có chứng đắc bất cứ pháp nào. Cho nên vị ấy được gọi là Tu-đà-hoàn...
- " Bởi v́ chưa có một pháp nào chứng đạt được quả Tư-đà-hàm. Đấy là lư do tại sao vị ấy được gọi là Tư-đà-hàm "

-... (Tương tự đối với quả A-na-hàm, A-la-hán...)

3. Hai cảnh giới thiền định:
- Tạ Yên Khánh, trên Ma Thiên Lănh, khổ luyện nội công đạt đến mức " thân, ư, khí " điều hợp, vật ngă đều quên: đây là một loại thiền định có sức mạnh tập trung và có thần lực của một cảnh giới định sâu, nhưng tâm ư của ông c̣n vướng vào thị phi, tự ngă, nên theo Phật học gọi là tà định. Loại định nầy vắng mặt trí tuệ và tâm đại bi.
- Cẩu Tạp Chủng đạt định " La hán phục ma " với trí minh mẫn, không dục vọng, không dính mắc, đầy nhân ái, theo Phật học đây là loại chánh định. Chỉ loại thiền định nầy mới có thể phát triển đến cao điểm, giáp mặt chân lư, giải mă được " Thái huyền kinh "
 

Phần 6

Hồi 5: Đinh đinh Đang đang

A. Tóm tắt Hồi 5

- Sau khi luyện xong phần nội lực theo các huyệt đạo và kinh mạch của 18 tượng La hán đất, t́nh cờ Cẩu Tạp Chủng đánh vỡ lớp đất bọc ngoài tượng, khám phá ra 18 tượng gỗ ở bên trong, chỉ thuần kẻ đường kinh mạch để vận hành công lực. Chàng liên tục ba ngày đêm luyện nhuần nhuyễn hết chỉ dẫn của 18 tượng gỗ và thực sự thành tựu " Phục ma thần công ", vận công theo ư muốn - nhiều cao tăng Thiếu Lâm, do quá ham muốn luyện công đă từng thất bại trong việc luyện tập La hán phục ma thần công nầy.
- Các người ở Trường Lạc bang vẫn đinh ninh Cẩu Tạp Chủng là Thạch Phá Thiên, nên thường sợ hăi chàng v́ kinh nghiệm về xử xự thất thường và tàn ác của Thạch Phá Thiên, hoặc v́ tánh " đa t́nh " (trăng nguyệt), háo sắc của chàng Phá Thiên. Tất cả cung cách và ngôn ngữ hiền ḥa, lịch sự của Cẩu Tạp Chủng v́ thế bị hiểu lầm là ngôn ngữ trêu chọc, mỉa mai, độc địa. v.v... khiến chàng không thể hiểu ai, và không ai hiểu chàng.
- Đinh đinh Đang đang đến kéo chàng ra ngoài đùa cợt, v́ vị nể nàng đă từng săn sóc chàng khi điều thương, chàng đi theo nàng về gặp lăo gia gia Đinh Bất Tam. Nhận ra nội lực hùng hậu, kỳ đặc của chàng, Đinh Bất Tam hoan hỷ chấp nhận chàng là bạn trai của cháu gái Đinh Đang của lăo và ngơ ư kén chàng làm cháu rễ...

B. Ư kiến

1. Hai công phu hành thiền:

- 18 pho La hán, phần đất là phần chỉ dẫn vận khí qua các huyệt đạo và kinh mạch để thành tựu nội lực. Đây là h́nh thức hệt với công phu tu tập Thiền chỉ (Samatha) của Thiền định Phật giáo. Phần này, trong công phu Thiền định tà giáo cũng có.
- 18 pho La hán bằng gỗ là phần chỉ dẫn kinh mạch để luyện công, vận dụng nội lực đă có theo các đường kinh mạch.

Phần nầy, tâm tập chú và tỉnh giác sâu hơn. Đây là bước công phu hành Thiền quán (Vipassana), hay Chỉ-Quán song hành, của Thiền định Phật giáo.

Kim Dung giới thiệu: nếu hành giả biết cách thu phát nội lực theo ư muốn, th́ chỉ lực phóng ra sẽ như là đường kiếm báu, biểu hiện một sức mạnh vô song. Đây là biểu tượng của trí tuệ giải thoát có thể trực tiếp cắt đứt các phiền năo, các tâm lư trói buộc, mà không chỉ chế ngự chúng.

Phần thiền quán nầy nếu liên tục được phát triển, th́ sẽ đi tới điểm giải mă bí kíp của "Thái Huyền Kinh ".

2. Ư nghĩa " Phục ma "

- Ma là chỉ các việc làm của thân, lời, ư sai lầm dẫn đến hại ḿnh, hại người, đem phiền năo, khổ đau đến cho ḿnh và người.
- Ma c̣n có nghĩa là chỉ những ǵ ngăn che tâm thức con người khỏi sự thật, chân lư, giải thoát. Dục vọng, chấp ngă, chấp trước các cảm thọ, tri kiến, đều thuộc đường ma, theo nghĩa rộng hơn.

Phục ma là hàng phục, chế ngự, loại trừ các tác nhân vừa đề cập ở trên.

Thần Công " La hán phục ma ", v́ thế, là loại sức mạnh của tâm lư, định lực giúp hành quả phát triển thiền quán, trí tuệ để cắt đứt các nhân tố gây ra khổ đau cho ḿnh và người, được diễn đạt như vơ công siêu đẳng có thể đánh bại dễ dàng các loại vơ công khác trên giang hồ.

Tác giả " Hiệp Khách Hành "đă giới thiệu " La hán phục ma thần công ", do các thần tăng Thiếu Lâm sáng tạo, chói sáng trên vơ lâm như là văn hóa tâm thức của Phật giáo chói sáng giữa vùng văn hóa của xưa nay, phải chăng?

3. Sự chân thật và định kiến:

- Cẩu Tạp Chủng sau khi hành " La hán phục ma thần công " theo 18 h́nh tượng gỗ thành công thuần thục, tâm thức trở nên rất định tỉnh, sáng suốt, đă cố gắng nói lên sự thật chàng không phải là Thạch Phá Thiên, nói lên một cách rất chân thành, nhưng không được mọi người tin tưởng lời nói của chàng, mà phản ứng bất thuận lợi đối với chàng:
- Thị Kiếm th́ cho rằng chứng " tẩu hỏa " đă khiến chàng quên mất quá khứ, cứ đề pḥng các tật xấu của Thạch Phá Thiên xuất hiện nơi chàng.
- Trần Hương chủ th́ hiểu những lời lẽ thân t́nh của chàng như là quyết định cắt đứt mạng sống của chính ḿnh...
- Hoa Vạn Tử th́ nh́n chàng như là kẻ " hái hoa " và phản ứng rất là khó hiểu...
- Đinh Đang th́ cứ nhất quyết đối xử với chàng như Thạch Trung Ngọc, dù chàng đă nhiều lần chân thật xác nhận chàng là Cẩu Tạp Chủng...

T́nh cảnh trở nên rối rắm: Cẩu Tạp Chủng ngạc nhiên, bức tai về những ǵ người chung quanh xử sự với chàng. Những người chung quanh cũng đầy kinh ngạc về thái độ xử sự của chàng. Tất cả rối rắm chỉ do định kiến của mọi người về Thạch Phá Thiên, và xem chàng là Thạch Phá Thiên.

Cũng thế, khi con người đă bị ảnh hưởng sâu đậm về các giá trị của một nền văn hóa cũ, th́ khó mà tiếp thu tiếng nói mới mẻ dù là thật, chân và hay. Theo thuật ngữ của Phật học, đây được gọi là " điên đảo t́nh " (sentimental inversion).

 

Phần 7

Hồi 6: Vết thương

A. Tóm tắt Hồi 6

- Liên tiếp nhiều sự hiểu lầm chết người, nhiều cuộc xung đột lời lẽ và đao kiếm xẩy ra do sự nhận lầm cái thân tướng giống nhau giữa Cẩu Tạp Chủng và Thạch Phá Thiên (Thạch Trung Ngọc):
Dù thành thật xác nhận chàng không phải là Thạch Ca của Đinh Đang, Đinh Đang cũng nhất mực đ̣i cưới chàng, nhất là khi nhận ra vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng nằm đúng vị trí mà Đinh Đang đă một lần cắn vào vai Thạch Trung Ngọc (vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải Thạch giả tạo khi chàng đang cơn sốt mê)

Dù Cẩu Tạp Chủng rất chân thật nói chàng không có mối liên hệ nào với bang Tuyết Sơn, th́ vô minh (do tin đồn và thị giác đánh lừa) của nhóm Bạch Vạn Kiếm vẫn cho là lời lẽ của chàng là xảo ngôn, bội nghĩa...
- Sự dối gạt của Bối Hải Thạch, và sự mê muội, sân si, hẹp lượng của các người khác đă dựng nên bi kịch về cái tướng dẫn đến cảnh máu rơi...

B. Ư kiến

1. Cái tướng trạng là hư dối:
- Cái na ná của thân tướng Cẩu Tạp Chủng và Thạch Trung Ngọc chưa có cơ sở để kết luận cả hai là một người duy nhất.
- Dù hai chàng ấy giống nhau cho đến từng vết thẹo trên thân th́ hai người vẫn là hai cá thể khác biệt, có hai thế giới cảm xúc và tâm thức hoàn toàn khác nhau.

Việc nhận diện con người qua ngoại h́nh, hay việc xác định giá trị hành động qua các biểu hiện bên ngoài của hành động, là một bi kịch của máu và nước mắt.

Vết thương trong Hồi truyện thứ 6 nầy không phải là vết thương trên vai, trên chân của Cẩu Tạp Chủng, mà là vết thương trong nhận thức và văn hóa con người!

Đây là điều mà Kinh Kim Cang đă dạy: sự thật là ở thực tại, ở cái tâm, mà không ở nơi cái tướng. Các tướng trạng đều là không thật (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng)

Sự nhận lầm về giá trị của các hiện hữu qua các tướng trạng ấy, giáo lư nhà Phật gọi là vô minh. Chính vô minh là đầu mối của các rối ren của con người và xă hội phát sinh ra vạn nổi sầu khổ, hệt như sự nhận lầm lừng lựng về Cẩu Tạp Chủng!

2. Chủ quan của các quan điểm và giới hạn của các quan điểm:

- Như Đinh đinh Đang đang với chủ quan qua kinh nghiệm các giác quan của ḿnh đă nhận lầm rất lớn về Cẩu Tạp Chủng dẫn đến cảnh ngộ cưới hỏi, yêu thương lỡ khóc lỡ cười; cũng thế, các chủ trương của các lư thuyết ở đời cũng chỉ dẫn đưa con người đến một kết cục lỡ khóc lỡ cười!
- Như Bạch Vạn Kiếm và nhóm kiếm sĩ Tuyết Sơn với chủ quan qua kinh nghiệm các giác quan, qua các báo cáo điều tra, và qua cả vết thẹo t́nh cờ mang dấu hoa mai nơi chân của Cẩu Tạp Chủng, đă dẫn đến bi kịch xung đột đao kiếm rất tang tóc; cũng thế, các chủ trương của các lư thuyết dựa vào kinh nghiệm, chứng nghiệm giới hạn cũng chỉ dẫn dắt con người đến các kết cục bi kịch đầy bi thương!

Giáo lư nhà Phật nói về sự thật vô ngă, thái độ sống vô chấp, nhân ái, từ bi chỉ nhằm vào mục đích diệt trừ nguyên nhân của khổ đau, đem lại hạnh phúc, an lạc cho đời, mà không nhất thiết dừng lại ở một chủ trương, chủ thuyết nào, nên sẽ không dẫn dắt con người đến một kết cục ki bịch nào. Đây là những ǵ mà người viết nghe âm vọng từ ngôn ngữ tiểu thuyết Hiệp Khách Hành của Kim Dung.

3. Nguyên nhân của các hiện hữu:

- Quần hào nhận lầm Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Ngọc đặc biệt là qua vết thẹo hoa mai do kiếm pháp của Tuyết Sơn để lại trên chân của Thạch Trung Ngọc. Nếu t́m hiểu rơ nguyên nhân của vết thẹo trên chân của Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải Thạch giả tạo th́ sự thật sẽ phơi bày. Cũng vậy, nếu biết rằng vết thẹo trên vai của Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải Thạch tạo ra, th́ Đinh Đang đă không nhầm lẫn " đấng " lang quân!

Đây là bài học t́m hiểu rơ nguyên nhân của một hiện hữu: theo giáo lư nhà Phật, khi chưa hiểu rơ nguyên nhân của Khổ th́ chưa hiểu rơ sự thật của Khổ, và do đó chưa thể thấy con đường dẫn ra khỏi khổ.

4. Các duyên tạo nên vô minh hay sự nhận lầm:

- Bạch Vạn Kiếm nhận lầm là do