|

Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hăi


Cố Sư
Bà Thích Nữ Diệu Không
|
|
|
WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP
ONLINE!
ĐÀN ÁP TÔN GIÁO LÀ HUỶ DIỆT SỨC SỐNG CỦA DÂN TỘC !
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT
NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED
STATES OF AMERICA
VĂN PH̉NG II VIỆN HÓA ĐẠO - HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
VPLL: 311 E. MISSION ROAD, SAN GABRIEL CA 91776 * TEL 626
614-0566 * FAX 626 286-8437
|
  
Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cơi Thật
Thế
Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ !
Bàn
về tư tưởng Phật Học
trong tiểu thuyết Vơ Hiệp Kim Dung
Thích Chơn Thiện
--- o0o ---
Thay
lời tựa
Tiểu sử Kim Dung
Theo tài liệu :
1. " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm ", Bành
Hoa-Triệu Kiến Lập, dịch giả Nguyễn thị Bích Hải,
NXB Trẻ, TP. HCM, 2002.
2. " Kim Dung : Tác Phẩm và Dư Luận ", Nhiều tác
giả, NXB Văn Học, TP. HCM, 2001.
Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tháng 2,
1924 trong một gia đ́nh gồm sáu anh chị em, Kim Dung
là thứ hai, tại Viên Hoa Trấn, huyệïn Hải Ninh, tỉnh
Triết Giang, là nơi địa linh nhân kiệt của Trung
Quốc.
Thân mẫu là người của thời " Ngũ Tứ " ( 4/5/1919 ),
thời của phong trào đấu tranh dân chủ mở đầu thời kỳ
hiện đại Trung Quốc, tri thủ đạt lễ, thích thơ văn,
tư tưởng khai minh, dân chủ.
Thân phụ là Tra Xu Khanh không theo nghiệp văn
chương, mà vào doanh thương, vừa là một đại địa chủ
có đến 3.600 mẫu ruộng, với hơn 100 hộ tá điền.
Cụ cố nội là Tra Thận Hành là nhà thơ nổi tiếng bậc
nhất đời Thanh. Ông nội là Tra Văn Thanh, đỗ Tiến
sĩ, làm Tri huyện ở Giang Tô, bênh vực nhóm nhân dân
đốt nhà thờ Thiên Chúa mà bị triều đ́nh cách chức.
Họ Tra là ḍng dơi thế gia vọng tộc, thanh danh hiển
hách từ triều Nam Đường thời Ngũ Đại (907 - 960).
Vua Thanh Cao Tông - Càn Long đă ngự đề một câu đối
treo cao trước cổng từ đường rằng :
" Đường Tống dĩ lai cự tộc
Giang Nam hữu sổ nhân gia "
( Họ lớn từ thời Đường Tống
Danh gia bậc nhất Giang Nam )
Người đương đại th́ khen :
" Một nhà bảy Tiến sĩ
Chú cháu năm Hàn lâm "
Thiếu thời, Kim Dung rất tuấn tú, thông minh, hoạt
bát, tinh nghịch mà biết điều; mê cảnh đẹp và say
nghe các chuyện kể hay và đẹp.
Từ năm 1930 đến 1940 : Theo học Tiểu học ở Hải Ninh,
Triết Giang, học Trung học ở Hàng Châu.
Từ năm 1941 đến 1945 : Học luật pháp quốc tế khoa
ngoại văn, trường đại học chính trị Trùng Khánh. Làm
việc tại Thư viện Trung ương lúc chưa tốt nghiệp.
Bấy giờ Kim Dung có dịp nghiền ngẫm nhiều sách,
truyện.
Từ năm 1946 đến 1949 : Trở lại Hàng Châu làm phóng
viên cho nhật báo Đông Nam, sau lại được Đại Công
Báo tuyển trong số hơn 3.000 người dự tuyển; sang
thường trú ở Hồng Kông, phiên dịch tin tức quốc tế
cho báo nầy.
Từ năm 1950 đến 1955 : Chuyển sang biên tập phụ san
cho báo Tân Vấn, phụ trách mục Chuyện trà chiều,
kiêm dịch tin tức, dưới bút hiệu Diêu Phúc Lan.
Bấy giờ Kim Dung khởi sự viết tập tiểu thuyết vơ
hiệp đầu tay : " Thư Kiếm Ân Cừu Lục " với bút hiệu
Kim Dung.
Năm 1956 : Sáng tác và đăng báo " Bích Huyết Kiếm ".
Năm 1957 : Viết và đăng truyện " Xạ Điêu Anh Hùng "
Năm 1959 : Viết, đăng truyện " Tuyết Sơn Phi Hồ ",
truyện dài rất ngắn của Kim Dung.
Giữa năm 1959, khởi viết " Thần Điêu Hiệp Lữ ", đến
năm 1962 mới xong.
Năm 1960 - 1961 : Viết, đăng " Phi Hồ Ngoại Truyện "
Năm 1963 : Viết, đăng truyện " Liên Thành Quyết " (
hay " Tố Tâm Kiếm " ) trên Minh Báo (Hồng Kông ) và
trên báo Đông Nam Á ở Singapore.
Cùng năm 1963, viết, đăng " Thiên Long Bát Bộ " (
hay Lục Mạch Thần Kiếm ) trên hai báo vừa kể.
Năm 1965 : Viết, đăng " Lộc Đỉnh Kư " trên Minh Báo.
Năm 1975: Viết, đăng " Việt Nữ Kiếm ", truyện Vơ
hiệp ngắn nhất của Kim Dung.
Trong khoảng thời gian hai mươi năm từ 1950 đến
1970, ngoài các công việc của một phóng viên, biên
tập viên, dịch các thông tin quốc tế, Kim Dung đă
sáng tác 15 tập truyện Vơ hiệp rất dài - trừ Tuyết
Sơn Phi Hồ và Việt Nữø Kiếm - theo thứ tự thời gian
như sau :
1. Thư Kiếm Ân Cừu.
2. Bích Huyết Kiếm.
3. Tuyết Sơn Phi Hồ.
4. Phi Hồ Ngoại truyện.
5. Xạ Điêu Anh Hùng truyện.
6. Thần Điêu Hiệp Lữ.
7. Ỷ Thiên Đồ Long Kư.
8. Bạch Mă Khiếu Tây Phong ( 1960 ).
9. Uyên Ương Đao.
10. Liên Thành Quyết ( 1963 ).
11. Thiên Long Bát Bộ ( 1964-1968 ).
12. Hiệp Khách Hành ( 1965 ).
13. Việt Nữ Kiếm.
14. Tiếu Ngạo Giang Hồ.
15. Lộc Đỉnh Kư .
Trong đó số hai truyện Thiên Long Bát Bộ và Hiệp
Khách Hành nổi bật sắc thái Phật giáo, các tập
truyện khác cũng bàng bạc đó đây triết lư Phật giáo
với Thiếu Lâm tự xuất hiện như một Vơ lâm Minh chủ.
Tại lễ đường của trường Đại học Bắc Kinh, ngày
27/10/1994, hơn 1000 sinh viên vui vẻ, hân hoan đón
tiếp Kim Dung. Tại đây, một số câu hỏi đă được đặt
ra :
Hỏi : " Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt
quan niệm nhân sinh của ngài ? "
Đáp : " Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt
quan niệm nhân sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư
tưởng triết học Phật giáo. Phật giáo khá bi quan đối
với nhân sinh, cho rằng đời người là bể khổ. Vô luận
nhân sinh tốt đẹp đến thế nào, cuối cùng rồi cũng
chết
Nhưng Phật giáo c̣n có quan niệm khác, tuy con người
không tránh được cái chết, nhưng vẫn c̣n có lúc tái
sinh, sau nầy có thể đời sống tốt hơn, có thể cống
hiến được sức ḿnh, có thể giúp đỡ được người khác.
Có thể nói rằng chân đế của Phật giáo về nhân sinh
là sâu sắc nhưng giá trị thực dụng của triết học
Phật giáo có thể hữu ích đối với cá nhân, c̣n đối
với xă hội vị tất đă hữu ích ? "
( " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm,?tr.356 )
Hỏi : Phải chăng tiểu thuyết của ngài tuyên dương tư
tưởng tôn giáo ?
Đáp : Đối với Phật giáo, tôi có phần tâm đắc, nhưng
không có ư truyền giáo. Cách nh́n của tôi là, nếu
anh gần với quan niệm tôn giáo nào đó th́ cần t́m
hiểu nó, nếu không gần gũi th́ bất tất phải cố gắng
truy cầu ... ( Ibid. tr.357 )
Bành Hoa và Triệu Kiến Lập th́ giới thiệu về Kim
Dung rằng :
" Kim Dung rất phong độ, ông ta không hề bực bội với
lời lẽ của tôi ( Lư Ngao ). Ông ta khiêm tốn giải
thích quan điểm của ḿnh. Ông ta đặc biệt nhắc đến
rằng từ sau khi con trai ông ta bất hạnh mất sớm,
ông tập trung nghiên cứu Phật học, ông đă là một tín
đồ trung thành của Phật giáo ... " ( Ibid. tr.326 )
Trong " Văn khố đại sư Văn học Trung Quốc, thế kỷ XX
,Tiểu thuyết quyển " đánh giá Kim Dung, xếp người
vào vị trí thứ tư trong hàng chín bậc đại sư : Lỗ
Tấn, Thẩm Ṭng Văn, Ba Kim, Kim Dung, Lăo Xá, Ức Đạt
Phu, Vương Mông, Trương Ái Linh và Giả B́nh Ao. (
Ibid. tr.345 )
Tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung đă gây ra một tiếng
vang rất xa, vang khắp các vùng Đông Nam Á từ lâu
đến nỗi đă phát sinh ra hiện tượng nghiên cứu về
Tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều khía cạnh gọi là Kim
học hay Kim Dung học phát triển ở Hồng Kông, Đài
Loan, và cả ở Bắc Kinh, đại để như :
- " Bách gia chư tử và Kim Dung ", Viễn Cảnh Xuất
Bản Xă, Đài Bắc, 1984 ( của Thẩm Đăng Ân ).
- " Đọc Kim Dung t́nh cờ tâm đắc ", Thư Quốc Trị,
Viễn Cảnh Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1982.
- " Thế giới dưới ng̣i bút Kim Dung ", Dương Hưng
An, Bách Ích Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1983.
- " Kim Dung và Nghê Khuông ", Thẩm Tây Thành, Lợi
Văn Xuất Bản Xă, Hồng Kông, 1984.
- Ở Trung Quốc ( đại lục ), đă có nhiều chuyên gia,
giáo sư đại học viết bài giới thiệu hay b́nh luận,
nghiên cứu Tiểu thuyết Kim Dung.
Tháng 2, 1986, Phùng Kỳ Dung trong bài " Bàn về Tiểu
Thuyết Kim Dung " đă viết về những ấn tượng khi ông
đọc Tiểu thuyết Kim Dung rằng :
- " Thứ nhất : Lịch sử mà Tiểu thuyết Kim Dung bao
hàm có nội dung xă hội sâu rộng rất nổi bật và rất
hiếm thấy trong các tác gia tiểu thuyết vơ hiệp
đương đại.
Thứ hai : Tư tưởng mà Tiểu thuyết Kim Dung đề cập có
thể nói là đủ chư tử bách gia, tam giáo cửu lưu, hầu
như bao gồm tất cả; c̣n về phương diện văn học th́
cả thơ, từ, ca, đối ngẫu, câu đối, khúc tử đều có đủ
lại rất đắc địa, không hề g̣ ép khiên cưỡng, khiến
cho người ta có cảm giác vốn liếng và khí lực của
tác giả c̣n rất dồi dào sung măn.
Thứ ba : Trên phương diện nghệ thuật, một số nhân
vật do Kim Dung sáng tạo rất nhiều h́nh tượng sinh
động, thành công như Tiêu Phong, Trần Gia Lạc, Văn
Thái Thái, Hoắc Thành Đồng, Quách Tĩnh, Hoàng Dung
v.v... Đó là những h́nh tượng khó quên, có sức hấp
dẫn rất mănh liệt. Có ai đọc những bộ Tiểu thuyết ấy
mà không cảm động trước những h́nh tượng nghệ thuật
như vậy.
Thứ tư : Ấn tượng đặc biệt sâu sắc của tôi ( tức
Phùng Kỳ Dung ) là chất văn học trong Tiểu thuyết
của Kim Dung: Nó khác hẳn tất cả tiểu thuyết vơ hiệp
cũ lẫn tiểu thuyết vơ hiệp đương đại . Nó không
những có ngôn ngữ trong sáng, tính văn học cao, hành
văn lưu loát, uyển chuyển; mà cả thơ cả từ trong đó
đều sử dụng rất khéo; điều quan trọng nữa là trong
tác phẩm thường chan chứa ư thơ, đạt đến cảnh giới
mỹ lệ. Theo cách nói quen thuộc, đó là một thế giới
rất phong phú đa dạng, khiến người ta cảm thấy như
đang sống trong thế giới ấy, cảm thấy được hưởng thụ
nghệ thuật, một thứ mỹ cảm khiến người ta say sưa.
Thứ năm : Sự biến hoá của t́nh tiết nghệ thuật trong
tiểu thuyết Kim Dung như núi mọc lên đột ngột ngoài
trời, đó là chỗ khiến người ta phải vỗ án khen
tuyệt. Đang tưởng như " sơn cùng thủy tận " bỗng gặp
đường lối mở ra, t́nh men theo cảnh, hợp t́nh hợp
lư. Chính v́ thế mà người ta không sao rời sách, cứ
phải đọc cho đến hết .
- Năm 1992, " Bách Hoa Châu Văn Nghệ Xuất Bản Xă "
đă xuất bản cuốn " Phân Tích và Thưởng Thức Tiểu
Thuyết Kim Dung "...
- Một số trường đại học nổi tiếng, đă có nhiều
chuyên đề"Nghiên cứu Kim Dung "...
- Các tác phẩm từ " Thư Kiếm Ân Cừu Hận " đến " Lộc
Đỉnh Kư " đă được giới điện ảnh làm thành phim nhựa
( ibid. tr. 265 - 267)
Về nhiệt t́nh chính trị của Kim Dung, Bành Hoa và
Triệu Kiến Lập nhận xét : " Trong bộ tiểu thuyết này
( Thư Kiêm Ân Cừu Hận) ta có thể thấy Kim Dung đă
thể hiện nhiệt t́nh chính trị của ḿnh : t́nh cảm
dân tộc, ḷng yêu tổ quốc, cho đến lư tưởng an bang
trị quốc, cứu đời cứu dân. Nhăn quan của Kim Dung
rất chính xác " ( Ibid. tr.299 )
Ngày 16 tháng 7, năm 1981, được sự sắp đặt của chính
quyền Trung Quốc, Kim Dung, phu nhân và con trai vào
thăm đại lục, được Đặng Tiểu B́nh tiếp kiến, nhiều
nhân vật cao cấp ở Quốc Hội và Chính Phủ tiếp xúc,
trao đổi. Sau chuyến Bắc du dài, thăm mười Tỉnh và
Thành phố trong nước, tại Hồng Kông, các phóng viên
Minh Báo đă phỏng vấn, Kim Dung đă xác định và điều
chỉnh lập trường chính trị và cái nh́n của ông về
đại lục, phát biểu rằng :
" Thứ nhất, tôi tin rằng hiện nay ở Trung Quốc không
có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế vị
trí lănh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Thứ hai, tôi tin rằng Trung Quốc trong mấy mươi năm
sắp tới không thể thực hành dân chủ theo kiểu phương
Tây, mà dù có khả năng th́ chưa chắc đă có lợi cho
đất nước và nhân dân.
Thứ ba, cá nhân tôi tán thành Trung Quốc xây dựng
chủ nghĩa xă hội khai minh. Nói chung, so với thói
quen phóng túng và sự phân hóa giàu nghèo thái quá
trong xă hội tư bản chủ nghĩa th́ chủ nghĩa xă hội
công bằng hợp lư hơn. Nhưng ở đại lục tự do của cá
nhân c̣n hạn chế, Đảng Cộng Sản lănh đạo làm kinh tế
hiệu suất c̣n thấp, chưa giải phóng được lực lượng
sản xuất của nhân dân, tư tưởng và tác phong tả
khuynh khá nghiêm trọng. Cá nhân tôi tán thành việc
không ngừng cải cách từng bước, chứ không nghĩ rằng
một cuộc cách mạng long trời lở đất có thể giải
quyết được vấn đề " Tôi nhận thấy Đảng Cộng Sản
Trung Quốc từ Trung ương đến địa phương đă không c̣n
khoa trương như trước mà phần nhiều nói về khuyết
điểm của ḿnh, ít nói đến thành tích, điều nầy để
lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất ". ( Ibid. tr.
302 )
Nhận xét về chế độ, tổ chức xă hội ở Hồng Kông, nơi
cư trú hơn hai mươi năm qua của Kim Dung, Kim Dung
đánh giá :
"... Điều đáng quư nhất của Hồng Kông là tự do sinh
hoạt, tinh thần pháp trị, sự phát triển kinh tế có
hiệu suất và linh hoạt, có nhiều cơ hội cho con
người, cái dở nhất của Hồng Kông là sự bất hợp lư,
bất công b́nh của tự do tư sản cực đoan " ( Ibid.
tr.303 )
Với khối óc và con tim lớn, từng trải qua các biến
đổi của thời đại, thế kỷ XX, nắm vững thông tin thế
giới, hẳn là Kim Dung đă chuyển tải qua các tiểu
thuyết vơ hiệp của ḿnh nhiều quan niệm, tư tưởng,
nhiều nhận xét đánh giá giá trị về xă hội hiện đại (
Trung Quốc và Thế giới ) và hẳn đă truyền vào đó
những cái nh́n và ư tưởng chân xác về thái độ sống
của các cá nhân, tập thể để xây dựng một cuộc sống
công bằng, nhân ái và an lạc, hạnh phúc tốt đẹp nhất
có thể. Thế nên, tiểu thuyết của ông đă có một hấp
lực lớn quấy động các sạp báo Saigon, và cả Saigon,
trong những năm của thập niên 60. Dân chúng nhiều
giới đều hâm mộ đọc tiểu thuyết vơ hiệp của Kim
Dung. Không khí hâm mộ dấy lên như là không khí xem
phim Tây Du Kư trên màn ảnh nhỏ của thập niên 80, TP
Hồ Chí Minh. Tác giả tập sách này cũng bị cuốn hút
theo làn sống hâm mộ có thể đọc truyện kiếm hiệp của
Kim Dung liên tục nhiều ngày đêm không mệt mỏi,
tưởng chừng như đang đi vào lục lọi túi khôn của
nhân loại mà Kim Dung đă dốc cạn vào trong truyện.
Ngày nay, các học đường nhiều nơi đang lác đác
nghiên cứu tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều phương
diện, đang chuyển thành hiện tượng " Kim học " hay "
Kim Dung học". Tại Việt Nam, 15 bộ tiểu thuyết kiếm
hiệp Kim Dung đang được Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội
ấn hành từ năm 2001 :
- Anh Hùng Xạ Điêu, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Tiếu Ngạo Giang Hồ, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Ỷ Thiên Đồ Long Kư, 4 tập ( >= 700 trang ), 2002.
- Lộc Đỉnh Kư, 10 tập ( >= 300 trang ), 2002.
- Thiên Long Bát Bộ, 9 tập ( >= 300 trang ), 2003.
- Hiệp Khách Hành, 4 tập ( >= 250 trang ), 2003.
Điều nầy khiến người viết " Bàn về Tiểu Thuyết Kim
Dung " đi t́m lại các cảm xúc của ḿnh khi mải mê
đọc vơ hiệp Kim Dung vào thập niên 60, đặc biệt là
cảm xúc về Phật học, về Văn hoá và Giáo dục. Người
viết chỉ có một nguyện vọng khiêm tốn là nói lên một
tiếng nói trân trọng về những ǵ tốt đẹp mà Kim Dung
đă cống hiến cho độc giả bốn phương.
Tác
giả cẩn bút
Tỷ kheo Thích Chơn Thiện
Chùa Tường Vân, Huế
Phần I
I. Mở đầu
1. Ấn bản đầu tiên năm 1965. Ấn bản năm 1977 có thay đổi
một số t́nh tiết, khiến " Hiệp Khách Hành " trở nên chặt
chẽ và ư vị hơn.
2. Đoạn kết của bản tu chỉnh kết thúc từ cảnh Thạch Phá
Thiên thành công trong công phu giải bí kíp Thái Huyền
Kinh, trở về Khô Thảo Lĩnh, núi Hùng Nhĩ, gặp "má má "
Mai Phương Cô để lại niềm băn khoăn về gốc gác của chính
ḿnh: " gia gia ta là ai? ", " má má ta là ai? ", " Ta
là ai? ". Những câu hỏi, mà tập truyện là câu trả lời,
làm dấy lên trong người đọc niềm thao thức khôn nguôi.
3. Bài cổ thi " Hiệp Khách Hành " của thi hào Lư Thái
Bạch là bí kíp Thái huyền công cất giữ trên đảo Hiệp
Khách. Nguyên văn bài cổ thi là:
" Triệu khách mạn hồ anh ; Ngô câu sương tuyết minh ;
Ngân yên chiếu bạch mă ; Tạp đạp như lưu tinh.
Thập bộ sát nhất nhân ; Thiên lư bất lưu hành ;
Sự liễu bất y khứ ; Thâm tàng thân dữ danh.
Nhàn quá Tín Lăng ẩm ; Thoát kiếm tất tiền hoành ;
Tương chích đạm Chu Hợi ; Tŕ khương khuyến Hầu Doanh.
Tam bôi thổ nhiên nặc ; Ngũ nhạc đảo vi khinh ;
Nhăn hoa nhĩ phục hậu ; Ư khí tố nghi sinh.
Cứu Triệu huy kim trụy ; Hàm Đan tiên chấn kinh ;
Thiên thu nhị tráng sĩ ; Huyền hách Đại Lương thành.
Túng thử hiệp cốt hương ; Bất tàm thế thượng anh ;
Thùy năng thư các hạ ; Bạch thủ Thái huyền kinh ".
Dịch nghĩa:
" Khách nước Triệu phất phơ giải mũ ; Kiếm ngô câu rực
rỡ tuyết sương ;
Ngân yên bạch mă huy hoàng ; Vó câu vun vút như ngàn sao
bay.
Cách mười bước giết người chẳng trật ; Ngh́n dặm xa vùng
vẫy mà chi ;
Việc xong rũ áo ra đi ; Ẩn thân rừng núi kể ǵ tiếng
tăm.
Rảnh lại nhớ Tín Lăng t́m đến ; Gươm gác đùi chuốc chén
đầy vơi ;
Này nem, này rượu khuyên mời; Bên thời Châu Hợi, bên
thời Hầu Doanh.
Ba chén cạn thân ḿnh sá kể; Năm núi cao xem nhẹ lông
hồng ;
Mắt hoa mặt đă nóng bừng ; Khí hùng bay bổng lên từng
mây xanh.
Chùy cứu Triệu vung tay khẳng khái; Thành Hàm Đan run
rẩy kinh hoàng;
Ngh́n thu tráng sĩ hai chàng ;Tiếng tăm hiển hách rỡ
ràng Đại Lương.
Người dù chết xương c̣n thơm ngát ; Chẳng hổ ngươi đáng
mặt anh hào;
Ḱa ai ẩn náu trên lầu ; Chép kinh đến thuở bạc đầu chưa
xong ".
4. Nguyên bản năm 1965 th́ không có lời hậu kư. Nguyên
bản tu chỉnh năm 1977 th́ có lời hậu kư rằng:
"... Mọi cố gắng để chú thích và b́nh luận đều làm tổn
hại đến bản ư của tác giả, lại c̣n tạo ra những trở ngại
nghiêm trọng. Bộ Hiệp Khách Hành này viết 12 năm trước,
đă diễn giải ư kiến này khá đầy đủ. Gần đây tôi đọc
nhiều kinh Phật hơn, đối với ư nầy càng tâm đắc.
Kinh Bát Nhă của Đại thừa, Trung Quán luận của Long
Thọ đều cực lực bài bác những luận giải phiền phức cho
rằng các loại kiến thức chú giải đều do hư vọng sinh ra
, chỉ làm trở ngại cho việc thấy đạo của người tu học.
Khi tôi viết Hiệp Khách Hành nầy, tuy không thể nói là
hoàn toàn không biết kinh Phật, nhưng chỉ mới đọc hết
Kinh Kim Cang vào tháng 11 năm ngoái, tôi c̣n đọc Bát
Nhă và Trung Quán lại c̣n mới hơn, mới Xuân Hạ năm nay.
Nhân duyên bên trong việc này, thật không thể nào
giải thích được ".
Tháng 7, 1977.
Qua lời hậu kư của Kim Dung viết từ năm 1977, độc giả có
thể h́nh dung ra một số điểm đáng lưu ư rằng:
- Các giải thích, giải mă, b́nh luận của nhiều ư kiến
đương thời đều rơi vào các định kiến, giữa khi ư của tác
giả, trong truyện, th́ phù hợp với giáo lư nhà Phật, phù
hợp với vô ngă và vô chấp.
- Lúc sáng tác Hiệp Khách Hành, 1965, Kim Dung nh́n
nhận bấy giờ chưa đọc nhiều kinh điển Phật giáo, nhưng
vốn tâm đắc giáo lư nhà Phật, có nghĩa là có cái nh́n
nhân sinh và thế giới phù hợp với tinh thần Phật học.
Lúc tu chỉnh, 1977, tác giả đă đọc kỷ Kinh Kim Cương,
tạng Bát Nhă, Trung Quán Luận.
Thực sự từ 1967, người viết " Bàn về Tiểu thuyết vơ
hiệp Kim Dung ", một tu sĩ Phật giáo, đă thấy rơ ảnh
tượng Kinh Kim Cương khắp bốn tập truyện Hiệp Khách
Hành, đă cùng các pháp hữu sôi nổi trao đổi cảm nhận ở
ngoài hành lang của giảng đường Phật học Vạn Hạnh. Hẳn
là có chút băn khoăn về phần kết của truyện. Nay th́
phần ấy đă được tu chỉnh rất gọn.
- Do v́ Kim Dung tâm đắc với Phật giáo nên cái nh́n
của tác giả, qua toàn truyện, toát ra nhiều hương sắc
Phật giáo. Đây là phần khảo sát của người viết, không đi
vào các hàm ư giá trị khác.
Phần 2
Hồi 1: Huyền Thiết Lệnh
A. Tóm tắt hồi 1
- Tạ Yên Khách, một quái kiệt giang hồ, sinh
thời đă tặng cho ba đại ân nhân ba tấm Huyền Thiết Lệnh,
mỗi tấm Thiết Lệnh có thể yêu cầu Tạ Yên Khách làm bất
cứ một việc ǵ dù khó khăn, nguy hiểm. Tạ Yên Khách đă
thu về hai tấm và đă làm hai việc chấn động giang hồ.
Tấm thứ ba tặng cho một đại hiệp mà có lẽ trọn đời vị
đại hiệp sẽ không dùng đến. Không may vị đại hiệp đánh
rơi Thiết Lệnh. Thế là giang hồ tranh nhau t́m đoạt, bao
gồm cả chủ nhân Tạ Yên Khách: nhóm Kim Đan Trại, nhóm
kiếm sĩ Tuyết Sơn, hai hiệp khách Thạch Thanh, Mẫn Nhu,
v.v...
- Kiếm sĩ Ngô Đạo Thông đang cất giữ Huyền Thiết Lệnh
nầy và trở thành kẻ địch của thiên hạ. Ngô Đạo Thông vừa
nuôi tham vọng nhờ cậy Tạ Yên Khách, vừa hoá trang để
che mắt: làm một ông già bán bánh Tiêu ở trị trấn Hầu
Giám Tập: đao kiếm đẫm máu đă xẩy ra vào một buổi hoàng
hôn... Bấy giờ có một bé ăn xin Cẩu Tạp Chủng đi lang
thang t́m mẹ, kẹt giữa " trận chiến " đao kiếm, t́nh cờ
nhặt được chiếc bánh tiêu bên vệ đường để ăn, chiếc bánh
mà Ngô Đạo Thông cất giữ Thiết Lệnh.
- Tạ Yên Khách t́m thấy Thiết Lệnh từ chiếc bánh tiêu
của Cẩu Tạp Chủng trước sự chứng kiến của nhiều kiếm
khách. Theo lời hứa, Tạ Yên Khách phải bảo vệ cậu bé, và
phải làm theo một yêu cầu của bé, nhưng bé th́ vâng theo
giáo huấn của "má má " ở Hùng Nhĩ, trọn đời sẽ không mở
miệng xin ai một điều ǵ. Do vậy, Tạ Yên Khách phải giữ
cậu bé cạnh ḿnh, không rời một bước, sợ bị người xấu
xúi giục yêu cầu điều khó thực hiện, và chờ đợi cơ hội
để đánh lừa bé...
- Tạ Yên Khách đem Cẩu Tạp Chủng về sống cách ly trên
đỉnh núi Ma Thiên Nhai cô vắng.
B. Ư kiến
1. Hiệp sĩ, hay hiệp khách, là người thường cứu giúp
người, cứu giúp đời, thoát khỏi các áp bức , bất công.
Xa hơn, Hiệp khách c̣n trừ khử các cường tặc, các tham
quan ô lại để bảo vệ dân lành, bảo vệ các quan trung
chính v́ nước, v́ dân. Nhân vật chính của truyện kiếm
hiệp v́ thế đầy tiết khí, hấp dẫn người đọc. Kim Dung đă
mượn tiểu thuyết kiếm hiệp như là phương tiện tốt nhất
để chuyên tải tư tưởng, tâm sự, cảm xúc, tiết khí của
ḿnh đối với nhân quần và quốc gia xă hội, xây dựng một
hệ văn hoá đầy tính nhân văn và trí tuệ.
2. Nền văn hoá nào cũng nói về điều thiện, đề cao điều
thiện, nhưng quan niệm về lẽ thiện th́ có điểm khác
nhau. Kim Dung nói:
" Bậc thông minh tài trí, kẻ hùng cường dũng cảm đại đa
số đều tích cực tiến thủ. Tiêu chuẩn đạo đức đă chia họ
ra làm hai loại người: mưu cầu hạnh phúc cho nhiều
người, đó là người tốt; chỉ chú ư đến quyền lợi và địa
vị, dục vọng của riêng ḿnh mà làm hại người khác, đó là
người xấu. Mức độ tốt xấu căn cứ vào mức độ họ đem lại
hạnh phúc hay gây tai họa cho người khác để xác định ".
3. Về quan niệm về Truyền thống, giáo sư triết Lư Đỗ,
trong dịp thảo luận với Kim Dung tại Đại học Tân An,
Hồng Kông, đă hỏi:
" Tôi đọc Ỷ Thiên Đồ Long Kư, Tiếu Ngạo Giang Hồ, v.v...
Tôi đoán, phải chăng tiên sinh cảm thấy văn hóa của
chúng ta phát triển đến ngày nay, những cái tốt đẹp của
truyền thống đă rơi rụng mất rồi, cần phải t́m ở bên
ngoài, như vậy hơi có ư vị phủ định truyền thống ,"
Kim Dung đáp:
" Có mấy bộ tiểu thuyết, xuất phát điểm của tôi lúc ấy
là phủ định cách nghĩ giáo điều chủ nghĩa. Tôi tín phục
lư tính... Tôi nghĩ bản thân chân lư cũng có tính tương
đối của nó. Xă hội biến thiên, chân lư cũng có thể thay
đổi. Đạo lư ngàn vạn năm bất biến, đó là điều mà tôi
không tin. Sự thực, những kẻ cuồng tín rất nhiều, thậm
chí trong lănh vực khoa học cũng có, những lư thuyết
khoa học đă từng được người ta cho là chân lư nhưng rồi
lại hóa ra không hoàn toàn đúng ".
4. Về quan niệm Nhân quả - Nghiệp giản đơn ở đời, như "
ở hiền th́ gặp lành, ác giả ác báo " - khác với nhân quả
ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai: sanh báo, hậu báo
và laibáo, của Phật giáo th́ Kim Dung nghĩ khác hơn:
" Tôi muốn mượn tiểu thuyết để phản ảnh nhân sinh. Ở đời
không nhất thiết ' ở hiền gặp lành, ác giả ác báo '.
Cuộc đời thật ra rất phức tạp, số phận cũng thiên biến
vạn hóa. Nếu cứ theo mô thức nhất định mà mô tả th́ quá
giản đơn hóa cuộc đời. Cờ vây có công thức nhất định mà
nhân sinh th́ không có định thức. Đem Kinh kịch để biểu
hiện nhân sinh th́ thường định thức hóa, chức năng nghệ
thuật của Kinh kịch thường thiên về giáo huấn, khó ḷng
thể hiện chân thực đời sống ". (Ibid.tr.330)
Các điểm vừa nêu trên, từ mở đầu, là ánh sáng rọi vào "
Hiệp Khách Hành " để người viết nhận ra tư duy mới và tư
tưởng Phật học của Kim Dung.
5. Các nhân vật trong Hồi 1 biểu hiện các mẫu h́nh tâm
lư về thiện, ác, bất định ở nhiều cấp độ, như:
- Tạ Yên Khách là một quái kiệt vơ lâm bất câu thiện,
ác, đă tặng ba tấm Huyền Thiết Lệnh và hứa sẽ làm theo
một yêu cầu của người có Thiết Lệnh, nhưng khi một tấm
rơi vào tay cường đạo, ông ta đă bằng mọi thủ đoạn để
đoạt lại tấm Thiết Lệnh ấy. Ông thuộc loại mẫu tâm lư
bất định.
- Nhóm Kim Đao Trại th́ hung hăn, đầy ham muốn vị kỷ,
xem mạng sống của tha nhân như cỏ rác: nhóm nầy thuộc
tâm lư xấu ác.
- Thạch Thanh - Mẫu Nhu suốt đời trọng nghĩa, làm việc
nghĩa giúp người: thuộc tâm lư thiện, tốt.
- " Má má " của Cẩn Tạp Chủng do hận t́nh mà một lần đă
gia hại gia đ́nh Mẫn Nhu: theo tâm lư Phật giáo, nàng
thuộc hạng tâm lư si và hận, thuộc ác tâm, hại tâm...
- Tên giúp việc trong tiệm tạp hóa quen thói " lư sự cùn
", khi nghe một tay đao kiếm hung hăn nói: " C̣n ai muốn
nếm mùi đao th́ cứ việc chạy ra ". liền buột miệng bép
xép: " Đao th́ làm ǵ có mùi?" liền bị tên hung hăn vung
roi giật bắn người ra đường chết toi. Cái chết rẻ rúng,
lạt nhách như thế là sự cảnh tỉnh cái thói quen hư đàm,
huyền luận vô bổ.
- Cẩu Tạp Chủng là mẫu tâm lư thuần thiện: trong sáng,
chân thật rất nguyên sơ, thông tuệ, nhân ái. Đây là mẫu
tâm lư mà Kim Dung xây dựng niềm tin phát triển sẽ đi về
chân, thiện, mỹ: chàng sống vô cầu, vô dục từ thân phận
kẻ ăn xin, rồi đời sống dẫn dắt đến điểm nhặt được Huyền
Thiết Lệnh, thân cận quái khách, đi vào phương trời mới.
Qua Hồi 1, người đọc có cảm nhận rơ: ai sống thiểu dục
tri túc th́ tốt đẹp cho bản thân và xă hội; sống đa dục,
vị kỷ th́ làm khổ ḿnh, khổ người, thể hiện triết lư
sống của nhà Phật.
Hồi 2: Thiếu niên gây
đại họa
A. Tóm tắt hồi 2
- Hai hiệp Khách Thạch Thanh và Mẫu Nhu kư thác
con trai là Thạch Trung Ngọc làm môn nhân của kiếm phái
Tuyết Sơn. Năm 15 tuổi, Thạch Trung Ngọc là một thiếu
niên năng động, láu lỉnh, đa t́nh, hay chọc ghẹo A - Tú,
13 tuổi, con gái của Bạch Vạn Kiếm (Cháu nội của bang
chủ Tuyết Sơn); A Tú chưa bị hạ nhục, nhưng tức ḿnh tự
vẫn (được kể lại). Mẹ nàng bị trách cứ, và v́ thương con
mà sanh cuồng trí. Phong Vạn Lư, thầy dạy kiếm của Thạch
Trung Ngọc, bị bang chủ tức ḿnh chặt đứt một cánh tay.
Bang chủ phu nhân bị vạ lây, bỏ Tuyết Sơn ra đi. Hai
người sư thúc khác của Thạch Trung Ngọc bị Đinh Bất Tam
giết v́ lư do khác cũng được kết vào tội do lỗi Thạch
Trung Ngọc gây ra. Từ đó Bạch Vạn Kiếm dẫn một toán kiếm
sĩ hạ sơn t́m kiếm Thạch Trung Ngọc để giết, và đốt
Thạch gia trang để rửa hận.
- Bạch Vạn Kiếm đ̣i Thạch Thanh - Mẫn Nhu đến gặp bang
chủ Tuyết Sơn (Bạch Tự Tại) để nhận trách nhiệm làm cha
làm mẹ. Giọc đường cả toán Tuyết Sơn bị Tạ Yên Khách tấn
công thu hết kiếm, lại vô minh chồng chất, kết oán cho
rằng Thạch Thanh và Mẫn Nhu ám hại họ.
B. Ư kiến
1. Ở tuổi 15, Thạch Trung Ngọc chỉ là một thiếu niên "
quậy phá ", trêu chọc A Tú, dễ dàng được các vơ sư, kiếm
sĩ uốn nắn, nhất là khi A Tú suưt bị hại. Vậy mà gia
đ́nh bang chủ Bạch Tự Tại đă để ḿnh rơi vào một số sai
lầm mà giáo lư nhà Phật gọi là vô minh:
- Có các người ganh ghét và đố kỵ Thạch Trung Ngọc (do
v́ Thạch Trung Ngọc có bố mẹ thân t́nh với bang chủ,
giàu có và tiếng tăm) đă dựng chuyện thêu dệt, chuyện bé
xé ra to.
- Có những bàn tay quái nghịch trong bóng tối như Đinh
Bất Tam, Đinh Bất Tứ, A Đang nhúng tay vào khiến cho sự
việc rối rắm.
- Quan niệm sai lầm về giá trị " đứng đắn ", " tiết
trinh ", đức hạnh " của người con gái của gia đ́nh Bạch
Tự Tại đă " đổ dầu vào lửa " cho sự việc cháy bùng, đáng
tiếc!
- Các tướng trạng, hay các sự kiện, biểu hiện do rất
nhiều nguyên nhân xa, gần tác động, nhưng " vô minh " đă
giục gia đ́nh Bạch Tự Tại quy tội về cho Thạch Trung
Ngọc, một ḿnh Thạch Trung Ngọc.
- Từ nh́n sai sự việc, dẫn đến hành động sai lầm; các
hành động sai lầm dẫn đến sự kết nối sai lầm dây chuyền.
Hầu như Kim Dung đang phô diễn cái hư huyễn của các
tướùng trạng, và cái nguy hại của các tâm lư xấu của con
người mà Kinh Kim Cang nhà Phật gọi là " Các tướng trạng
đều không thật " (" Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng
")
2. Cục diện Tuyết Sơn khởi đầu rối rắm do nh́n sai, thấy
sai và nghĩ sai: thuật ngữ Phật giáo gọi là tà kiến và
tà tư duy ; từ đó kéo theo các sai lầm khác như báo cáo
sai (tà ngữ), hành động sai (tà nghiệp), tưởng nghĩ sai
(tà niệm), nỗ lực giải quyết sai (tà tinh tấn) do thiếu
sáng suốt, định tỉnh (tà định). Tại đây Kim Dung bắt đầu
gợi mở ra nếp sống, nếp văn hóa "Bát Chánh Đạo" của Phật
giáo: nếp sống của sự đúng đắn, ổn định.
3. Cảnh tượng Cảnh Vạn Chung của Tuyết Sơn chạm vào nội
lực của Thạch Thanh mới nhận ra nội lực quá yếu kém của
ḿnh, sợ hăi đến toát mồ hôi lạnh: sự việc nầy các người
chung quanh không nhận ra, rằng giá trị của sức mạnh của
một kiếm khách nằm ở nội lực, mà không ở bên ngoài kiếm
thuật. Cũng vậy, giá trị của một hành động là dựa vào
cái tâm tác động lên hành động (tốt xấu)...) mà không
nằmở bên ngoài của biểu hiện hành động. Đây là nội dung
định nghĩa chữ Nghiệp (Karma) của nhà Phật.
4. Thạch Thanh và Mẫn Nhu là hai đại hiệp khách chân
chính mà liên tục gặp tai ương: con, Thạch Trung Ngọc bị
nạn; Thạch Gia Trang bị đốt; các gia nhân của Thạch Gia
Trang bị khốn đốn; một đứa con trai khác, Thạch Trung
Kiên, bị " Mai Phương Cô " (t́nh địch) bắt đi mất tích
từ năm lên một. Đây là trường hợp ở ngoài sự thật " ác
giả ác báo, ở hiền gặp lành " mà người đương thời tin
tưởng.
5. Đời sống th́ dẫy đầy các tác nhân vô thường, bất
định:
- Các sân hận th́ phản ứng đột ngột, tai hại bất định,
khó lường.
- Các tâm lư tham th́ hành động âm thầm, mưu thâm đầy
nguy hiểm.
- Các tâm lư bất định hành động tùy hứng như Tạ Yên
Khách, Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, A Đang... th́ khó
lường. Giữa môi trường sống đó th́ con người dễ mắc vào
các tai họa, rủi ro không do ḿnh gây ra. Đây là nỗi khổ
vô thường, theo Phật học, gắn chặt với thân phận con
người ở ngoài mọi " logic ".
Chỉ có sự thuần túy thuật chuyện về một hồi truyện ngắn
của Kim Dung đă ảnh hiện rất nhiều điểm về Phật học, rất
ư vị!
Phần 4
Hồi 3: Ma Thiên Nhai
A. Tóm tắt hồi 3
- Tạ Yên Khách thu hồi được Huyền Thiết Lệnh từ
Cẩu Tạp Chủng ; sợ nguy hại đến tánh mạng nếu có người
xúi giục Cẩu Tạp Chủng yêu cầu Tạ Yên Khách tự vẫn hay
phế bỏ vơ công, nên ông đă đem Cẩu Tạp Chủng từ thị trấn
Hầu Giám Tập về sống trên đỉnh Ma Thiên Lĩnh, ngày đêm
giám sát cậu bé.
- Trên đường đi, Tạ Yên Khách dùng đủ mưu mô dụ dỗ, uy
hiếp buộc Cẩu Tạp Chủng cầu xin ông một điều ǵ cho làm
xong lời hứa, nhưng cậu bé th́ tuyệt nhiên không mở
miệng cầu xin bất cứ ai một điều ǵ. Đây là lư do mà cậu
bé được sống lâu dài bên cạnh quái khách Tạ Yên Khách
trên Ma Thiên Lĩnh để hầu hạ ông ta và luyện tập bí pháp
"La hán phục ma thần công ".
- Trên đường đi, chứng kiến ba cao thủ Trường Lạc bang
đang uy hiếp, bức tử Đại bi lăo nhân, Cẩu Tạp Chủng nổi
tâm nghĩa hiệp, lên tiếng bảo vệ lăo nhân mà không sợ
liên lụy. Bấy giờ th́ lăo nhân đă kiệt sức, sắp trút hơi
thở cuối cùng, cảm nghĩa cậu bé bèn cho cậu pho tượng
đất gồm 18 tượng La hán trong túi của ông ta. Đây là pho
bí pháp " La hán phục ma thần công " do các thần tăng
Thiếu Lâm sáng tác và để lại.
- Tạ Yên Khách bèn nghĩ ra một kế kín đáo hại chết Cẩu
Tạp Chủng bằng cách chỉ dạy cho Cẩu Tạp Chủng luyện tập
bí pháp trên pho tượng, không theo thứ tự, để tẩu hỏa
nhập ma. Nhưng Cẩu Tạp Chủng không có tạp niệm nên không
bị tẩu hỏa trong thời gian dài luyện công. Cuối cùng th́
luyện xong 18 đường dương công và 18 đường âm công, sắp
đến thời điểm thành tựu một vơ công " siêu thế "
B. Ư kiến
1. Cẩu Tạp Chủng là trẻ thuần lương, thông tuệ là nhân
vật chính sẽ mở ra bí kíp Thái Huyền Kinh, mở ra chân
lư, lại từ năm một tuổi lớn lên ở Khô Thảo Lỉnh, một
đỉnh núi cô vắng, xa thế sự, một đỉnh núi của các loài
cỏ khô; rồi năm 13 tuổi đến sống trên đỉnh Ma Thiên
Nhai, cũng cô vắng, lạnh lùng của " phương trời ma quái
" (Ma Thiên Nhai) và nội lực phát triển, trưởng thành ở
đây. Hệt như giải thoát phải đến từ khổ đau; chân lư
vượt ra từ cơi tà vạy: phải hiểu rơ khổ đế (sự thật của
khổ) mới thấy con đường đi ra khỏi khổ, đến với giải
thoát (diệt đế) của giáo lư nhà Phật.
2. Sự thật Tạ Yên Khách dấu mặt lấy đi hai thanh bảo
kiếm của Thạch Thanh và Mẫn Nhu mà nhóm Tuyết Sơn đang
giữ làm tin, khiến nhóm nầy quả quyết rằng đây là mưu
gian của Thạch Thanh và Mẫn Nhu.
- Sự kiện " má má " đặt tên Cẩu Tạp Chủng khiến Tạ Yên
Khách nghĩ rằng " má má " Mai Phương Cô bị chồng theo
gái, bỏ rơi.
Hai sự kiện đó nói lên ư nghĩa: Kinh nghiệm thường
nghiệm và tư duy logic rất dễ lầm lẫn: nó đúng mà không
thật. Ở nhà Phật th́ chân lư là cái ǵ vừa đúng (chân)
và vừa thật (như) gọi là chân như.
3. Tạ Yên Khách và Cẩu Tạp Chủng là hai h́nh ảnh văn hóa
tương phản:
- Tạ Yên Khách th́ bận tâm về giá trị h́nh thức " quân
tử ", " trượng phu ", mà hành xử lại bá đạo.
- Cẩu Tạp Chủng tự xem là phàm phu mà hành xử chân chất,
hiền thiện, thể hiện đạo lư của Thánh hiền: " Hợp nội
ngoại chi đạo " của Đại học.
H́nh ảnh của chàng gợi lên ở người đọc một chút ǵ ngậm
ngùi khi nh́n lại giá trị h́nh thức của nền văn hoá cũ.
4. Tạ Yên Khách đi vào giang hồ lâu ngày đă đánh mất cái
tính chân chất thuần phác như được thể hiện ở con người
Cẩu Tạp Chủng. Đây là ư nghĩa của " Tánh tương cận, tập
tương viễn " mà đạo đức mang màu sắc Phật giáo ở Cẩu Tạp
Chủng (tẩy sạch tâm lư cấu uế) có thể làm sống lại ư
nghĩa " cận đạo ":
- Ở Tạ Yên Khách, cái " ta " (tự ngă) và cái " của ta "
được phát triển mạnh.
- Ở Cẩu Tạp Chủng, cái " ta " và cái " của ta " th́ vắng
mặt một cách tự nhiên.
Hai h́nh ảnh văn hóa tương phản ấy đă mở ra một cuộc đối
thoại dài của Hồi truyện thứ ba, rất triết lư: Kim Dung
đang nói triết lư bằng ngôn ngữ kiếm hiệp đầy thú vị.
Thử nghe lại một mẫu đối thoại ngắn giữa hai người ấy:
" Gă ăn xin ăn xong cái này lại lấy cái khác, ăn hết
thảy bốn cái bánh bao mới nói: "Cháu no rồi, không ăn
nữa '.
Tạ Yên Khách ăn hết hai cái bánh rồi thôi, quay lại hỏi
chủ quán:
- ' bao nhiêu tiền '
Chủ quán đáp:' Hai đồng một cái. Cả thảy sáu cái, cộng
lại là mười hai đồng '
Tạ Yên Khách đáp: ' Không được. Phần ai ăn người ấy trả
tiền. Ta ăn hai tấm, vậy ta trả bốn đồng là đủ.
Lăo tḥ tay vào bọc toan móc tiền ra trả, nhưng sờ đi sờ
lại mà chẳng c̣n một đồng nào... Trong lúc Tạ Yên Khách
chưa biết giải quyết cách nào, th́ gă ăn xin đă móc
trong bọc ra một thỏi bạc, đưa cho chủ quán nói: ' Tất
cả mười hai đồng, để cháu trả cho '.
Tạ Yên Khách chưng hửng hỏi: ' Sao? Ngươi lại trả tiền
cho ta ư?'
Gă ăn xin cười đáp: ' Ông không có tiền mà cháu có, cháu
mời ông ăn mấy cái bánh bao phỏng có chi đáng kể? '. Chủ
quán cũng lấy làm kinh ngạc, lấy mấy miếng bạc vụn và
mấy xâu tiền đồng thối lại. Gă ăn xin thu tiền cất vào
bọc, rồi nh́n Tạ Yên Khách xem lăo sai bảo ǵ.
Tạ Yên Khách bất giác nở một nụ cười chua chát, nghĩ
thầm: ' Tạ mỗ cố chấp thành tính, trước nay dù là một
miếng cơm, một ly nước cũng chẳng chịu ơn ai, không ngờ
hôm nay lại để một gă ăn xin mời ăn hai cái bánh bao...
' (tập I.tr.92-93)
Nụ cười chua chát ấy của Tạ Yên Khách là nụ cười về tinh
thần bảo thủ, cố chấp của một nét văn hóa cũ!
5. Nếp văn hoá ở núi Hùng Nhĩ của Mai Phương Cô " má má
", h́nh như có sự hiện diện của bồ tát Quán Thế Âm, trí
tuệ vô ngă và ḷng từ bi cứu khổ, đă để lại ảnh hưởng
trong tâm thức hồn nhiên của Cẩu Tạp Chủng khi Cẩu Tạp
Chủng phát ngôn rằng:
" Gă ăn xin đáp: Sao lại ăn cắp? Vừa rồi một vị thái
thái giống Quan Âm áo trắng đă cho cháu " (tr. 94)
và:" Ông ăn táo đi! Ông (chỉ Tạ Yên Khách) không phải là
người, cũng không phải ma quỷ, chẳng lẽ lại là Bồ Tát?
Nhưng cháu thấy cũng không giống " (tr. 97).
Nét văn hóa Phật giáo nhẹ nhàng ấy dần dần in đậm vào
tâm thức Cẩu Tạp Chủng, trước khi khởi động công phu "
La hán phục ma thần công ", để thành tựu việc khai mở
chân lư của Thái Huyền Kinh trên đảo Hiệp Khách!
6. Ư Nghĩa biểu tượng của 18 tượng La hán:
Trong Phật giáo, La hán là hàng đệ tử Đức Phật đă hàng
phục được ḷng tham dục cơi Dục, cơi Sắc và cơi Vô sắc,
và hàng phục được sự đắm trước (chấp thủ) ḷng dục, thấy
biết, giới luật sai lầm, và các học thuyết chủ trương có
tự ngă (dù dưới bất cứ dạng thức nào). Kinh Phật dạy có
18 ḍng Ái (và Thủ) liên hệ nội tâm, và 18 ḍng Ái (và
Thủ) liên hệ ngoại cảnh:
Liên hệ nội tâm: Khi nào có ư niệm ta có mặt th́ sẽ có
những tư tưởng: ta có mặt trong đời này; ta có mặt như
vậy, ta có mặt khác như vậy; ta không thường hằng; ta
thường hằng; ta phải có mặt không? ta phải có mặt trong
đời này không? ta phải có mặt như vậy; ta phải có mặt
khác như vậy; mong rằng ta có mặt; mong rằng ta có mặt
trong đời này; mong rằng ta có mặt như vậy; mong rằng ta
có mặt khác như vậy; ta sẽ có mặt; ta sẽ có mặt trong
đời này; ta sẽ có mặt như vậy; ta sẽ có mặt khác như
vậy.
Liên hệ ngoại cảnh: Khi nào có tưởng: ' Do cái này, ta
có mặt; th́ sẽ có các tư tưởng: do cái này, ta có mặt
trong đời này (tương tự trên)
(Tăng chi kinh, II, PTS, London, 1992, tr.226)
Nội dung của 18 ḍng Ái (Thủ) trên là nội dung của Tập
đế (nguyên nhân của khổ) trong Tứ Diệu đế của Phật giáo
(được biểu tượng qua chuổi hạt tay 18 hạt hay 36 hạt).
Đại bi lăo nhân tặng cho Cẩu Tạp Chủng 18 Tượng La hán
là trao cho công phu loại trừ hết thảy các loại chấp thủ
ngă tưởng mà Kinh Kim Cang Bát Nhă của Đại thừa Phật
giáo đă đề cập, bao gồm tám loại: ngă tưởng, nhân tưởng,
chúng sanh tưởng, thọ giả tưởng, pháp tưởng, phi pháp
tưởng, tưởng và phi tưởng:
- Ngă tưởng: tin tưởng có mặt một tự ngă khác với năm
uẩn như khi nói: cái này là của tôi, tôi là cái này, cái
này là tự ngă của tôi.
- Chúng sinh tưởng: tin tưởng có một cá thể độc lập,
liên tục và đồng nhất với chính nó qua thời gian; cá thể
đó phân biệt các phần tố bên trong cá thể khác biệt với
những ǵ ở bên ngoài.
- Thọ giả tưởng: tin tưởng có một sức mạnh hợp nhất và
sinh động bên trong cá thể, tồn tại từ khi sinh cho đến
khi chết.
- Nhân tưởng: tin tưởng có một thực thể thường hằng,
luân hồi, tái sinh từ kiếp nầy qua kiếp khác.
- Pháp tưởng: tin tưởng có sự hiện hữu thật sự của các
pháp độc lập.
- Phi pháp tưởng: (không pháp tưởng): tin tưởng có không
pháp độc lập với hiện hữu
- Tưởng: Tưởng thường quyết định tính chất cho sự vật
vốn không có trong thực tế.
- Phi tưởng: nếu biết tưởng là không thật mà chủ trương
không có tưởng, không tác tưởng-các bậc Thánh, Bồ Tát
vẫn tác tưởng mà vẫn giác tỉnh vô ngă, vẫn không chấp
thủ.
Đây là công phu tu tập chủ yếu của Phật giáo nói chung,
và Kim Cang Bát Nhă nói riêng.
7. Tu tập công phu loại trừ các tưởng tự ngă:
- Bước đầu hành giả cần tẩy sạch các tâm lư cấu uế, bất
thiện như tham lam, sân hận, si ám, đố kỵ, kiêu mạn, dối
gạt, ác hại, v.v? nếu không th́ không thể tu tập thành
tựu các tâm thiền định ở bước thứ hai.
Đây là nội dung mà Kim Dung giới thiệu Cẩu Tạp Chủng với
tâm lư trong sáng, giản đơn, không có thất t́nh, lục
dục, hành " La hán phục ma thần công " dễ dàng thành
tựu, không bị tẩu hỏa, như Tạ Yên Khách đă nhận xét:
" Thằng bé này đầu óc chưa được mở mang, chuyện đời hoàn
toàn không biết, trong ḷng không có tạp niệm, v́ thế
mới không bị tẩu hỏa nhập ma "(tr. 136)
Công phu " La hán phục ma " quả là công phu giáo dục các
tâm hồn, các cá nhân cho một xă hội đạo đức, nhân ái,
đầy t́nh người!
Phần 5
Hồi 4: Bang
chúa rừng Lạc bang
A. Tóm tắt hồi 4
-Tại Ma Thiên Lănh, Cẩu Tạp Chủng vừa luyện
xong 18 đường âm công và 18 đường dương công của " La
hán phục ma thần công ", do không biết điều ḥa kinh
mạch âm dương nên bị "tẩu hỏa", may kịp lúc Bối Hải
Thạch, và thêm các đại cao thủ Trường Lạc bang, xuất
hiện cứu cấp, tạm thời qua được cơn nguy cấp ; Bối Hải
Thạch lầm tưởng Cẩu Tạp Chủng là Thạch Phá Thiên, bang
chủ, nên rước về điều dưỡng ở cung Trường Lạc.
- Tại cung Thường Lạc, Bối Hải Thạch tiếp tục trị liệu
mỗi ngày. Đinh đỉnh Đang đang, người t́nh của Thạch Phá
Thiên, cho uống Huyền Băng Bích Hỏa Tửu (loại rượu rất
trân quư của vơ lâm, dùng để tŕ hoăn lại sự tương giao
của hai luồng khí âm dương trong nội thể), nên Cẩu Tạp
Chủng hồi tỉnh.
- Vào lúc hai luồng âm dương khí dâng đầy ở huyệt Đản
Trung (giữa ngực) th́ Triển Phi hương chủ, kẻ thù bị
cướp vợ của Thạch Phá Thiên, xuất hiện đánh một chưởng
mạnh vào huyệt Đản Trung để kết liểu đời Thạch Phá
Thiên. Không ngờ, chưởng nầy đă giúp Cẩu Tạp Chủng điều
ḥa được khí huyết, thành tựu thần thông " La hán phục
ma " lên đến đỉnh điểm. Triển Phi hương chủ th́ bị phản
lực mà bị gảy một cánh tay và trọng thương.
Cẩu Tạp Chủng, với từ tâm, vô hại tâm, đă bao che cứu
tội và trị thương cho Triển Phi.
Thật là sự lạ đầy kinh dị!
B. Ư kiến
1. Lạc bang là từ ngữ Phật học chỉ cơi nước của Đức Phật
A-Di-Đà. Ở đó, vắng mặt mọi thứ khổ đau, măi măi hạnh
phúc, yên vui nên gọi là Trường Lạc.
Bối Hải Thạch và các Hương chủ bang nầy th́ bản chất
hành ma đạo. Do v́ tránh nạn dự hội yến Lạp Bát ở Hiệp
Khách đảo nên tráo dựng bang chủ Thạch Phá Thiên; sau
khi Thạch Phá Thiên (Thạch Trung Ngọc) ẩn trốn, Bối Hải
Thạch lại mạo dựng Cẩu Tạp Chủng.
Thật là ư vị! tâm chân của Cẩu Tạp Chủng lại cần được
nuôi dưỡng, phát triển tại ma xứ nầy!
2. Cẩu Tạp Chủng: sức mạnh của vô dục,vô chấp:
- Bản tính của Cẩu Tạp Chủng là minh mẫn, chân thật,
thuần lương, vô dục và không chấp nệ các thị phi.
- Mọi người đều lầm chàng là Thạch Phá Thiên (trừ Bối
Hải Thạch sau khi điều thương cho chàng) và bày tỏ thái
độ tương hệ khác nhau: Cùng một đối tượng mà mỗi người ở
vị trí khác nhau th́ nh́n khác nhau. Cả tự thân Cẩu Tạp
Chủng cũng không thật sự biết rơ gốc gác của ḿnh, chỉ
lờ mờ chàng là chú bé ở đỉnh Hùng Nhĩ, đùa giỡn với chó
A-hoàng.
Nhờ có tâm lư vô dục, vô chấp ấy, Cẩu Tạp Chủng đă thành
tựu không khó khăn thần thông siêu đẳng của " La hán
phục ma ". Bước thành tựu c̣n tiến xa, xa nữa khi chàng
không chấp thủ cả kết quả thành tựu. Khi Bối Hải Thạch
nói:
" Chúc mừng bang chúa! Thần công cái thế của bang chúa
đă luyện thành rồi "
Cẩu Tạp Chủng đă hồn nhiên hỏi lại:
" Cái ǵ... cái ǵ là cái thế thần công? "
Đây, thực sự là ngôn ngữ của Kinh Kim Cang khi diễn đạt
sự chứng đắc bốn Thánh quả: Tu-đa -hoàn, Tư-đà-hàm ,
A-na-hàm, và A-la-hán:
" Đức Phật hỏi:' Này Tu-bồ-đề, ư ông nghĩ sao, vị
Tu-đà-hoàn có nghĩ rằng: Ta đă chứng đắc Tu-đà-hoàn quả
chăng?-Tôn giả Tu-bồ-đề đáp: Quả thật không, bạch Thế
Tôn. Tại sao? Bởi v́, bạch Thế Tôn vị ấy không có chứng
đắc bất cứ pháp nào. Cho nên vị ấy được gọi là
Tu-đà-hoàn...
- " Bởi v́ chưa có một pháp nào chứng đạt được quả
Tư-đà-hàm. Đấy là lư do tại sao vị ấy được gọi là
Tư-đà-hàm "
-... (Tương tự đối với quả A-na-hàm, A-la-hán...)
3. Hai cảnh giới thiền định:
- Tạ Yên Khánh, trên Ma Thiên Lănh, khổ luyện nội công
đạt đến mức " thân, ư, khí " điều hợp, vật ngă đều quên:
đây là một loại thiền định có sức mạnh tập trung và có
thần lực của một cảnh giới định sâu, nhưng tâm ư của ông
c̣n vướng vào thị phi, tự ngă, nên theo Phật học gọi là
tà định. Loại định nầy vắng mặt trí tuệ và tâm đại bi.
- Cẩu Tạp Chủng đạt định " La hán phục ma " với trí minh
mẫn, không dục vọng, không dính mắc, đầy nhân ái, theo
Phật học đây là loại chánh định. Chỉ loại thiền định nầy
mới có thể phát triển đến cao điểm, giáp mặt chân lư,
giải mă được " Thái huyền kinh "
Phần 6
Hồi 5: Đinh đinh Đang đang
A. Tóm tắt Hồi 5
- Sau khi luyện xong phần nội lực theo các
huyệt đạo và kinh mạch của 18 tượng La hán đất, t́nh cờ
Cẩu Tạp Chủng đánh vỡ lớp đất bọc ngoài tượng, khám phá
ra 18 tượng gỗ ở bên trong, chỉ thuần kẻ đường kinh mạch
để vận hành công lực. Chàng liên tục ba ngày đêm luyện
nhuần nhuyễn hết chỉ dẫn của 18 tượng gỗ và thực sự
thành tựu " Phục ma thần công ", vận công theo ư muốn -
nhiều cao tăng Thiếu Lâm, do quá ham muốn luyện công đă
từng thất bại trong việc luyện tập La hán phục ma thần
công nầy.
- Các người ở Trường Lạc bang vẫn đinh ninh Cẩu Tạp
Chủng là Thạch Phá Thiên, nên thường sợ hăi chàng v́
kinh nghiệm về xử xự thất thường và tàn ác của Thạch Phá
Thiên, hoặc v́ tánh " đa t́nh " (trăng nguyệt), háo sắc
của chàng Phá Thiên. Tất cả cung cách và ngôn ngữ hiền
ḥa, lịch sự của Cẩu Tạp Chủng v́ thế bị hiểu lầm là
ngôn ngữ trêu chọc, mỉa mai, độc địa. v.v... khiến chàng
không thể hiểu ai, và không ai hiểu chàng.
- Đinh đinh Đang đang đến kéo chàng ra ngoài đùa cợt, v́
vị nể nàng đă từng săn sóc chàng khi điều thương, chàng
đi theo nàng về gặp lăo gia gia Đinh Bất Tam. Nhận ra
nội lực hùng hậu, kỳ đặc của chàng, Đinh Bất Tam hoan hỷ
chấp nhận chàng là bạn trai của cháu gái Đinh Đang của
lăo và ngơ ư kén chàng làm cháu rễ...
B. Ư kiến
1. Hai công phu hành thiền:
- 18 pho La hán, phần đất là phần chỉ dẫn vận khí qua
các huyệt đạo và kinh mạch để thành tựu nội lực. Đây là
h́nh thức hệt với công phu tu tập Thiền chỉ (Samatha)
của Thiền định Phật giáo. Phần này, trong công phu Thiền
định tà giáo cũng có.
- 18 pho La hán bằng gỗ là phần chỉ dẫn kinh mạch để
luyện công, vận dụng nội lực đă có theo các đường kinh
mạch.
Phần nầy, tâm tập chú và tỉnh giác sâu hơn. Đây là bước
công phu hành Thiền quán (Vipassana), hay Chỉ-Quán song
hành, của Thiền định Phật giáo.
Kim Dung giới thiệu: nếu hành giả biết cách thu phát nội
lực theo ư muốn, th́ chỉ lực phóng ra sẽ như là đường
kiếm báu, biểu hiện một sức mạnh vô song. Đây là biểu
tượng của trí tuệ giải thoát có thể trực tiếp cắt đứt
các phiền năo, các tâm lư trói buộc, mà không chỉ chế
ngự chúng.
Phần thiền quán nầy nếu liên tục được phát triển, th́ sẽ
đi tới điểm giải mă bí kíp của "Thái Huyền Kinh ".
2. Ư nghĩa " Phục ma "
- Ma là chỉ các việc làm của thân, lời, ư sai lầm dẫn
đến hại ḿnh, hại người, đem phiền năo, khổ đau đến cho
ḿnh và người.
- Ma c̣n có nghĩa là chỉ những ǵ ngăn che tâm thức con
người khỏi sự thật, chân lư, giải thoát. Dục vọng, chấp
ngă, chấp trước các cảm thọ, tri kiến, đều thuộc đường
ma, theo nghĩa rộng hơn.
Phục ma là hàng phục, chế ngự, loại trừ các tác nhân vừa
đề cập ở trên.
Thần Công " La hán phục ma ", v́ thế, là loại sức mạnh
của tâm lư, định lực giúp hành quả phát triển thiền
quán, trí tuệ để cắt đứt các nhân tố gây ra khổ đau cho
ḿnh và người, được diễn đạt như vơ công siêu đẳng có
thể đánh bại dễ dàng các loại vơ công khác trên giang
hồ.
Tác giả " Hiệp Khách Hành "đă giới thiệu " La hán phục
ma thần công ", do các thần tăng Thiếu Lâm sáng tạo,
chói sáng trên vơ lâm như là văn hóa tâm thức của Phật
giáo chói sáng giữa vùng văn hóa của xưa nay, phải
chăng?
3. Sự chân thật và định kiến:
- Cẩu Tạp Chủng sau khi hành " La hán phục ma thần công
" theo 18 h́nh tượng gỗ thành công thuần thục, tâm thức
trở nên rất định tỉnh, sáng suốt, đă cố gắng nói lên sự
thật chàng không phải là Thạch Phá Thiên, nói lên một
cách rất chân thành, nhưng không được mọi người tin
tưởng lời nói của chàng, mà phản ứng bất thuận lợi đối
với chàng:
- Thị Kiếm th́ cho rằng chứng " tẩu hỏa " đă khiến chàng
quên mất quá khứ, cứ đề pḥng các tật xấu của Thạch Phá
Thiên xuất hiện nơi chàng.
- Trần Hương chủ th́ hiểu những lời lẽ thân t́nh của
chàng như là quyết định cắt đứt mạng sống của chính
ḿnh...
- Hoa Vạn Tử th́ nh́n chàng như là kẻ " hái hoa " và
phản ứng rất là khó hiểu...
- Đinh Đang th́ cứ nhất quyết đối xử với chàng như Thạch
Trung Ngọc, dù chàng đă nhiều lần chân thật xác nhận
chàng là Cẩu Tạp Chủng...
T́nh cảnh trở nên rối rắm: Cẩu Tạp Chủng ngạc nhiên, bức
tai về những ǵ người chung quanh xử sự với chàng. Những
người chung quanh cũng đầy kinh ngạc về thái độ xử sự
của chàng. Tất cả rối rắm chỉ do định kiến của mọi người
về Thạch Phá Thiên, và xem chàng là Thạch Phá Thiên.
Cũng thế, khi con người đă bị ảnh hưởng sâu đậm về các
giá trị của một nền văn hóa cũ, th́ khó mà tiếp thu
tiếng nói mới mẻ dù là thật, chân và hay. Theo thuật ngữ
của Phật học, đây được gọi là " điên đảo t́nh "
(sentimental inversion).
Phần 7
Hồi 6: Vết thương
A. Tóm tắt Hồi 6
- Liên tiếp nhiều sự hiểu lầm chết người, nhiều
cuộc xung đột lời lẽ và đao kiếm xẩy ra do sự nhận lầm
cái thân tướng giống nhau giữa Cẩu Tạp Chủng và Thạch
Phá Thiên (Thạch Trung Ngọc):
Dù thành thật xác nhận chàng không phải là Thạch Ca của
Đinh Đang, Đinh Đang cũng nhất mực đ̣i cưới chàng, nhất
là khi nhận ra vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng nằm đúng
vị trí mà Đinh Đang đă một lần cắn vào vai Thạch Trung
Ngọc (vết thẹo trên vai Cẩu Tạp Chủng là do Bối Hải
Thạch giả tạo khi chàng đang cơn sốt mê)
Dù Cẩu Tạp Chủng rất chân thật nói chàng không có mối
liên hệ nào với bang Tuyết Sơn, th́ vô minh (do tin đồn
và thị giác đánh lừa) của nhóm Bạch Vạn Kiếm vẫn cho là
lời lẽ của chàng là xảo ngôn, bội nghĩa...
- Sự dối gạt của Bối Hải Thạch, và sự mê muội, sân si,
hẹp lượng của các người khác đă dựng nên bi kịch về cái
tướng dẫn đến cảnh máu rơi...
B. Ư kiến
1. Cái tướng trạng là hư dối:
- Cái na ná của thân tướng Cẩu Tạp Chủng và Thạch Trung
Ngọc chưa có cơ sở để kết luận cả hai là một người duy
nhất.
- Dù hai chàng ấy giống nhau cho đến từng vết thẹo trên
thân th́ hai người vẫn là hai cá thể khác biệt, có hai
thế giới cảm xúc và tâm thức hoàn toàn khác nhau.
Việc nhận diện con người qua ngoại h́nh, hay việc xác
định giá trị hành động qua các biểu hiện bên ngoài của
hành động, là một bi kịch của máu và nước mắt.
Vết thương trong Hồi truyện thứ 6 nầy không phải là vết
thương trên vai, trên chân của Cẩu Tạp Chủng, mà là vết
thương trong nhận thức và văn hóa con người!
Đây là điều mà Kinh Kim Cang đă dạy: sự thật là ở thực
tại, ở cái tâm, mà không ở nơi cái tướng. Các tướng
trạng đều là không thật (Phàm sở hữu tướng giai thị hư
vọng)
Sự nhận lầm về giá trị của các hiện hữu qua các tướng
trạng ấy, giáo lư nhà Phật gọi là vô minh. Chính vô minh
là đầu mối của các rối ren của con người và xă hội phát
sinh ra vạn nổi sầu khổ, hệt như sự nhận lầm lừng lựng
về Cẩu Tạp Chủng!
2. Chủ quan của các quan điểm và giới hạn của các quan
điểm:
- Như Đinh đinh Đang đang với chủ quan qua kinh nghiệm
các giác quan của ḿnh đă nhận lầm rất lớn về Cẩu Tạp
Chủng dẫn đến cảnh ngộ cưới hỏi, yêu thương lỡ khóc lỡ
cười; cũng thế, các chủ trương của các lư thuyết ở đời
cũng chỉ dẫn đưa con người đến một kết cục lỡ khóc lỡ
cười!
- Như Bạch Vạn Kiếm và nhóm kiếm sĩ Tuyết Sơn với chủ
quan qua kinh nghiệm các giác quan, qua các báo cáo điều
tra, và qua cả vết thẹo t́nh cờ mang dấu hoa mai nơi
chân của Cẩu Tạp Chủng, đă dẫn đến bi kịch xung đột đao
kiếm rất tang tóc; cũng thế, các chủ trương của các lư
thuyết dựa vào kinh nghiệm, chứng nghiệm giới hạn cũng
chỉ dẫn dắt con người đến các kết cục bi kịch đầy bi
thương!
Giáo lư nhà Phật nói về sự thật vô ngă, thái độ sống vô
chấp, nhân ái, từ bi chỉ nhằm vào mục đích diệt trừ
nguyên nhân của khổ đau, đem lại hạnh phúc, an lạc cho
đời, mà không nhất thiết dừng lại ở một chủ trương, chủ
thuyết nào, nên sẽ không dẫn dắt con người đến một kết
cục ki bịch nào. Đây là những ǵ mà người viết nghe âm
vọng từ ngôn ngữ tiểu thuyết Hiệp Khách Hành của Kim
Dung.
3. Nguyên nhân của các hiện hữu:
- Quần hào nhận lầm Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Ngọc
đặc biệt là qua vết thẹo hoa mai do kiếm pháp của Tuyết
Sơn để lại trên chân của Thạch Trung Ngọc. Nếu t́m hiểu
rơ nguyên nhân của vết thẹo trên chân của Cẩu Tạp Chủng
là do Bối Hải Thạch giả tạo th́ sự thật sẽ phơi bày.
Cũng vậy, nếu biết rằng vết thẹo trên vai của Cẩu Tạp
Chủng là do Bối Hải Thạch tạo ra, th́ Đinh Đang đă không
nhầm lẫn " đấng " lang quân!
Đây là bài học t́m hiểu rơ nguyên nhân của một hiện hữu:
theo giáo lư nhà Phật, khi chưa hiểu rơ nguyên nhân của
Khổ th́ chưa hiểu rơ sự thật của Khổ, và do đó chưa thể
thấy con đường dẫn ra khỏi khổ.
4. Các duyên tạo nên vô minh hay sự nhận lầm:
- Bạch Vạn Kiếm nhận lầm là do | |