
LÁ
CHÚC THƯ DƯỚI NỀN CỔ THÁP
Chùa
Túc Châu ở Tế Nam là ngôi pháp vũ nổi tiếng một thời với
nhiều đời phương trượng chuyên tâm un đúc các thế hệ long
tượng cho Phật giáo Trung Hoa từ thời Thanh mạt. Nghe đâu
ngoài một tờ thánh chỉ sắc tứ, chùa c̣n lưu giữ không ít bút
tích đề tặng của nhiều thân vương Thanh triều cùng vô số
danh sĩ thiên hạ đương thời. Trong thời buổi mà đời sau miệt
thị là phong kiến ấy, chốn già-lam thường là chổ gặp gỡ của
các bậc nhân tài cao sĩ khắp triều dă. Một buổi xướng họa,
vài tuần trà hay chỉ một cuộc cờ ở đó rất có thể sẽ là khởi
điểm cho một sự cố hay biến chuyển nào đó về văn hóa hay
thời cuộc trong thiên hạ. Chùa Túc Châu từng là một điểm hẹn
kiểu đó. Hoà thượng Vạn Khánh là phương trượng đời mười bốn
ở đây.
Một
tấm lưng kḥm trên h́nh hài gầy guộc, y phục nâu ṣng và chỉ
dùng mổi cây gậy trúc khẳng khiu để tới lui đây đó, không ít
người thoạt nh́n cứ ngỡ ḥa thượng là một lăo nông nào đó
đến văn cảnh chùa. Hiếm ai trong lần sơ ngộ có thể ngờ được
cái sở học kinh người và một đạo hạnh thâm hậu phía sau vẻ
ngoài thô lậu thanh bần ấy. Mấy mươi năm trước, ngài đă từ
quan để đi tu với phương trượng chùa Túc Châu lúc đó là đại
lăo tăng Vạn Tường, tương truyền là một kỳ nhân có thể chỉ
uống nước lạnh suốt nhiều tháng trong mỗi lần tŕ tụng một
bộ kinh nào đó. Danh sư xuất cao đồ, học chúng Túc Châu
không hiếm người măn phúc kinh luân để thừa tài an bang tế
thế.
Đầu
thập niên 1940, t́nh h́nh chính trị Trung Quốc ngày một phức
tạp, xă hội cũng theo đó biến đổi tệ hại hơn. T́nh trạng
sinh hoạt của chùa Túc Châu dĩ nhiên cũng ít nhiều bị ảnh
hưởng theo ḍng thác thời cuộc. Tăng chúng ṭng học tại đây
ngày một thưa thớt. Từ con số trăm vị lúc cực thịnh xuống
c̣n không được một nửa, vậy mà cũng phải bữa cháo bữa rau.
Rồi một ngày sau năm 1949, có ai đó ác tâm tố cáo chùa chứa
phản động, chính quyền ra tay truy xét thô bạo rồi giải tán
toàn bộ học chúng chùa Túc Châu. Bao nhiêu đồ đệ tinh anh
thực học của hoà thượng Vạn Khánh giờ chẵng c̣n ai. Ngài trở
thành một ông từ già với hai chú tiểu tóc đào giữa ngôi đại
tự mênh mông. Chùa vắng như không người, nhưng tay mắt công
an vẫn ngày đêm lảng vảng. Thời gian trôi nhanh không ngờ
được. Khách văng lai thưa dần, rồi không c̣n ai về thăm Túc
Châu nữa. Tin tức ở đó ngày càng hiếm hoi. Một ngày mùa đông
năm 1981 có vị lăo tăng ghé lại Túc Châu xin ngũ nhờ qua đêm.
Chùa chỉ c̣n hai sư bà hom hem. Khu hậu viên ngổn ngang
chuồng trại. Sau ngày giải phóng, chùa Túc Châu có lúc được
trưng dụng làm trại chăn nuôi gia súc. Sau một thời gian
chăn nuôi thất bại, chùa Túc Châu lại bị bỏ hoang rồi dần dà
địa phương cho mời hai sư bà từ một chùa khác sang trông nom
nhang khói ở đây. Từ sau lúc hoà thượng Vạn Khánh viên tịch,
chẵng biết hai chú tiểu hầu ngài đă trôi giạt về đâu.
-------------xx------------
Tiếp
đăi vị lăo tăng như một khách quư, có lẽ phần nào cũng do
thấy ông cao tuổi, hai sư bà cung kính hướng dẫn ông đi thăm
quanh chùa và khi đi ngang ngôi tháp sau hậu viên, họ thản
nhiên cho biết trong đó là chổ thờ di cốt vị phương trượng
cuối cùng của chùa Túc Châu. Vị lăo tăng ngơ ư muốn được vào
làm lễ, hai sư bà dĩ nhiên đồng ư. Ḷng tháp chật hẹp, lại
nặng mùi ẩm mốc. Ông ngậm ngùi nh́n lên một cái bọc lụa màu
đỏ đặt trên bệ thờ. Trong đó là chiếc tiểu sành đựng di cốt
của ḥa thượng Vạn Khánh. Một nhúm nhang đang cháy dở dang
bên cạnh. Vị lăo tăng đưa mắt nh́n quanh rồi khẻ giật ḿnh.
Ông vừa đọc thấy hai hàng chữ ngoằn ngoèo trên vách tháp. Cố
giữ vẻ tự nhiên, ông chỉ tay lên vách rồi từ tốn hỏi hai sư
bà :
- Xin lỗi, chữ ǵ trên đó lem nhem quá, hai sư bà có thể đọc
cho nghe được không ạ ? Mắt tôi kém quá …
Hai
người gật đầu :
- Chúng tôi có thấy, thưa thầy, nhưng không đọc được
là những chữ ǵ. Có lẽ chỉ là h́nh hí họa của ai đó tiện tay
thôi ạ !
Nằm
trằn trọc trong gian pḥng rộng thênh của sư phụ ngày nào,
Đại Chuyết cứ nghĩ măi đến hai ḍng chữ đọc được khi năy. Có
lẽ cho đến bây giờ thiên hạ vẫn chưa ai chú ư đến chúng. Hai
sư bà không đọc được chỉ do họ không thể ngờ đó là hai ḍng
thảo tự được viết ngược. Thảo tự của mỗi người hầu như đều
có chỗ tùy tiện riêng tư, đă vậy nếu bị viết ngược th́ càng
mù mịt hơn. Ông đọc được chỉ v́ từ lúc c̣n là học tăng, một
vài huynh đệ đồng khóa của ông đă cùng nghĩ ra lối viết ấy
để xướng họa trong lúc giải trí. Những người đọc được kiểu
lộng thư này dĩ nhiên không nhiều. Hai ḍng chữ kia tiếp tục
nhăy nhót trong óc ông như một thách đố :
Đài thượng vô tục diệm
Tháp hạ hữu di thư
Câu
một đúng là hoàn cảnh của học viện Túc Châu bây giờ. Thế c̣n
câu hai ? Phải chăng sư phụ c̣n có điều muốn nhắn gửi ? Ngài
muốn dặn ḍ điều ǵ, cho ai ?
Sáng
sớm hôm sau, ngay từ lúc sương mù c̣n chưa tan hết, Đại
Chuyết đă lặng lẽ cầm chiếc đèn pin lần ra ngôi tháp với một
thanh gổ nhỏ trong tay. Sau một lúc chau mày quan sát, ông
cúi người gỏ nhẹ xuống từng viên gạch dưới nền tháp. Đây
rồi. Trong góc cùng của tháp có một viên gạch không được
trát vữa. Đại Chuyết giở nhẹ tấm gạch lên và bất giác rùng
ḿnh. Một cuộn giấy tṛn được phong kín bằng sáp nến nằm
khuất dưới lớp cát mỏng.
Xếp
lại viên gạch vào chỗ cũ, Đại Chuyết quay về pḥng rồi vặn
lớn ngọn đèn. Gió sớm mùa đông vẫn lạnh như cắt da và thổi
tràn từng đợt qua khóm trúc lớn bên cửa sổ, thế mà ngồi
trong pḥng, Đại Chuyết cứ phải lấy tay áo thấm mồ hôi trán.
Bên
trong lớp sáp kia đúng là lá thư của ngài Vạn Khánh. Một lá
thư dài, khá dài, và cũng là những ḍng thảo tự viết ngược,
đầy cả hai mặt giấy. “ Chư đệ tử ! Không muốn người ngoài
đọc được lá thư này, ta đành một lần khiến ḿnh chẵng giống
ḿnh là sử dụng ám tự, dù đó chỉ là kiểu lộng thư của huynh
đệ các con. Ta không thể biết trước ai sẽ là người t́m thấy
lá thư, nhưng vẫn hi vọng đó sẽ là một người trong số các
con.
“ Sự
biến xăy đến với Túc Châu quá bất ngờ, khiến ta không kịp có
được một buổi uống trà cùng các con như vẫn mong mơi, để bây
giờ phải ngồi một ḿnh mà nói với các con bằng mấy ḍng này.
Muộn chăng ? Có c̣n kịp lúc nữa hay không, các túc đồ của ta
? Ta cũng như các con, đều là những người tay trắng. Cái duy
nhất ta có thể để lại cho các con chỉ là những thứ ta nhận
được từ sư phụ ḿnh và đă lấy đó làm hành trang trên đường
đạo nghiệp. Ngày nào đọc được lá thư này của ta, có lẽ các
con sẽ hiểu rơ thêm v́ sao ngày xưa ta đă như quá vô tâm khi
chọn cho các con những pháp hiệu nghe qua có phần nghịch nhĩ
: Bất Tài, Vô Đức, Vô Năng, Vô Học, Vô Trí, Tiểu Mạn, Đại
Chuyết,…Chỉ một người duy nhất trong số các con có được chữ
Vạn của ḍng truyền pháp Túc Châu, đó là Vạn Nhậm. Điều đó
do đâu, ta sẽ nói ở sau. Chỉ nên biết, ai ta cũng thương
đồng đều hết. Và ngay trong việc đặt cho pháp hiệu cho từng
người cũng không hề có chút thiên vị. Chỉ có khổ tâm dụng ư
mà thôi. Bây giờ các con chẵng c̣n bên cạnh ta nữa, mấy ḍng
tâm huyết này thay ánh mắt ta dơi nh́n theo từng bước luân
lạc của các con…
“ Với
Bất Tài, ngọn bút kinh nhân của học viện Túc Châu, hăy luôn
nhớ lời ta : Người thế gian c̣n biết nói lập thân tối hạ thị
văn chương, trong cửa đạo chữ nghĩa cũng chẵng qua là một
trong nhiều phương tiện hành hoạt. Đời kẻ cầm bút lắm khi
bạc tựa kiếp tằm: Rút hết tinh anh ghi chép chuyện đời để
sau cùng người thương tâm tổn trí lại cũng chính là ḿnh.
Chỉ nên cầm bút khi không thể có chọn lựa nào khác, và luôn
biết được chỗ dừng để không mắc lỗi. Chép chuyện đời sao
bằng ghi chuyện ḿnh và ghi chuyện ḿnh sao hơn được việc
lặng lẽ sửa ḿnh!
“ Với
Vô Đức, người nổi bật trong đám học tṛ của ta về khả năng
giám chúng, nên nhớ lời ta : Quản chúng ở tŕnh độ rốt ráo
phải được bắt đầu từ khả năng tự hoá, tự quản. Con sẽ là một
phương trượng mẩu mực khi biết tự khiêm để trở thành biển
lớn dung chứa muôn sông. Tăng tục bên con là người từ muôn
phương sao tránh được những dị biệt. Hăy quên ḿnh đi, để
không một cá tính nào của người thiên hạ có thể làm phiền
ḷng con. Đào dưỡng và cưu mang các thế hệ tăng-già là trọng
nhiệm thiêng liêng nhất của nhà thiền. Lúc cần, hăy biết
lăng quên tất cả những ư niệm Lớn Nhỏ Bỉ Thử. Trong Phật môn
không hề có việc người cai trị và kẻ bị trị. Thử hỏi ai có
quyền nghĩ những trưởng tử nào đó của Như lai đang nằm dưới
tay ḿnh ? Những tục niệm như ghét thương, sở hữu cũng cần
được cảnh giác. Người xuất gia phải sống bằng ư niệm không
nhà, nếu không cẩn cẩn sẽ là tṛ cười thiên hạ khi bỏ nhà
nhỏ rồi lại vào nhà lớn. Bao dung, và xả kỷ là những điều
căn cội cho sự nghiệp truyền đăng của một phương trượng.
“ Với
Vô Năng, người chói ngời với phong phạm một giảng sư quán
chúng, hăy nhớ lời ta : Hiền thánh xưa nay có được khả năng
lập ngôn v́ đă qua được bước đầu lập hạnh. Bản hạnh vững
vàng th́ ngữ ngôn tự khắc có hấp lực. Tài hoa trên chót lưỡi
đầu môi chỉ là tṛ chơi của một sớm một chiều. Ngay đến
người tập vơ trong dân gian cũng phải thành tựu nội công mới
mong có được chưỡng lực. Những bậc pháp khí đến cầu pháp sẽ
nh́n con ra sao hơn là nghe con nói ǵ. Đức Thích Tôn và các
cao đồ của ngài thuở trước đều dùng đủ cả thân giáo và ngôn
giáo để độ sinh. Không trang nghiêm được ḷng ḿnh, người
nói pháp dễ mắc lỗi lầm, mà trong đó, Tự Tán Hủy Tha là một
điều đại kỵ của người sứ giả Như Lai, khiến tổn giảm âm đức,
đánh mất lư tưởng nối truyền huệ mạng.
“ Với
Vô Trí, một học tăng thừa tài kinh quốc, thân đắp Phật y
nhưng vẫn nặng ḷng với thế cuộc, hăy nhớ lời ta: Xót thương
quần sinh chính là bản hạnh của Bồ Tát, nhưng nên thương thế
nào cho hợp cách với một Sa Môn. Đừng bao giờ chọn cho ḿnh
con đường dẫn đến tuyệt địa. V́ lắm khi măi lo dấn thân bạt
mạng mà tự mất lối về. Việc chưa xong mà trước sau đều ngh́n
trùng không bờ bến, chơi vơi giữa ḍng. Lại nữa, khả năng
kinh quyền cũng là một vốn liếng quan trọng cho con. Đến như
việc ôm bát khất thực để t́m một bữa ăn c̣n phải nói đến hai
chữ Tùy Duyên th́ kể chi đến chuyện an bang tế thế càng khó
lắm thay. Kẻ làm tướng cầm quân ra trận c̣n phải nhớ những
điều cấm kỵ trong binh gia để tránh vong mạng oan uổng th́
kẻ nuôi hạnh Bồ Đề càng phải thận trọng mươi lần. Chúng ta
thân gửi Không Môn mà ḷng chẵng quên thương đời, nhưng ḷng
dẩu có thương đời cũng nên nhớ thân đang tại Không Môn. Đến
được rồi cũng đi được, đó chính là bản lănh tự tại của một
Bồ Tát giữa biễn lửa tử sinh. Và tinh thần tự tại đó c̣n có
một ư nghĩa quan trọng khác là Bồ Tát chỉ luôn hành động
bằng sự tự quyết thông qua ḷng đại bi và đại trí của chính
ḿnh, tuyệt không v́ tác động nào khác hay của bất cứ ai.
“ Với
Vô Học, người luôn xứng danh với ngoại hiệu Ṭng Lâm Thủ
Sách bằng sở kiến thâm viễn và ḷng cầu học vô bờ, hăy nhớ
lời ta : Mỗi cá nhân chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa vũ trụ
bao la với kiếp sống trăm năm vốn ngắn ngũi như một chớp mắt
trên ḍng thời gian vô thủy vô chung. Những điều có thể học
được th́ nhiều như cát biển. Kiến thức của người uyên thâm
nhất thiên hạ nhiều lắm chỉ là một vốc cát biển, một nắm lá
rừng. Do đó cái chí yếu của việc học cốt nằm ở chổ sở dụng
mà thôi. Mỗi cuộc b́nh sinh chỉ có một lư tưởng sống, người
hiếu học đến mấy cũng chỉ nên chọn lấy điều có thể ứng dụng
cho lư tưởng sống đời ấy. Càng ham vung vít nhăng cuội th́
sau cùng mọi sở tri có được chỉ là những thứ nửa vời vô
dụng. Hăy tùy sức mà học lấy những ǵ thực sự bao hàm được
cả hai ư nghĩa tự lợi và lợi tha. Ngoài ra tuyệt chẵng nên
phí sức. Nên phân biệt rơ điều ḿnh thích và cái ḿnh cần.
Kiếp nhân sinh tựa phù vân nên vốn không có đủ thời gian cho
những đam mê vô bổ. Kẻ học đạo giải thoát càng phải lưu tâm
cảnh giác những sở tri chướng vốn ngăn ngại tuệ nghiệp. Đôi
khi chỉ v́ chút hư danh mà cam tâm vùi đầu làm mọt sách quên
tu há chẵng hoang phí thân người lắm ru !
“ Ta
đặc biệt cho Vạn Nhậm cái pháp hiệu nghe ra đàng hoàng nhất
ấy cũng là có chỗ dụng ư. Hắn không sở đắc một biệt tài nào
xuất chúng, tất cả ở hắn chỉ ở mức Cần và Đủ. Sở trường duy
nhất của hắn là một tâm địa có thể dung ḥa mọi thứ, và có
thể khởi hành ở mọi lĩnh vực. Đó chẵng là bản lănh mà Khổng
Phu Tử xưa đă tự nhận xét về ḿnh khi so sánh với các đệ tử
hay sao ? Dĩ nhiên trong một đại sự quan trọng Vạn Nhậm
tuyệt không thể không cậy nhờ đến từng người trong các con,
và ngược lại, các con có lẽ cũng rất cần đến một người giống
hắn. Tương duyên chính là mạch sống trong quan hệ sinh tồn
của vạn pháp hữu vi. Muôn duyên ḥa hợp nhau mà vận hành
đồng bộ. Trong đó không có chính thứ, trước sau, trên dưới,
mạnh yếu theo chiều dọc v́ tất cả đều có cùng cái giá trị
của một mắt xích trong xâu chuỗi tương quan. Ta chỉ lo là
khi thiên hạ ai cũng muốn trở thành sao sáng th́ một người
như Vạn Nhậm quả là không dễ gặp. Ta may mắn có được một học
tṛ như hắn, chỉ tiếc hắn quá yểu mệnh. C̣n nhớ buổi chiều
an táng hắn, ta đă đau xé ḷng như ngày xưa đức Khổng đă
khóc thương Nhan Hồi. Các con nên hănh diện v́ một huynh đệ
như hắn. Dù hôm nay hắn đă không c̣n nữa…
“C̣n
nhiều, nhiều lắm. Có thể nói một trăm hai mươi học tăng ở
Túc Châu đều có sở trường. Trong mấy trang giấy này làm sao
ta có thể kể ra hết từng người. Nhưng chung quy lại, mỗi
người trong số các con có thể phần nào dựa theo ư nghĩa tên
ḿnh mà đoán được dụng ư giáo huấn của ta. Nên nhớ, hăy lấp
đầy sở đoản và phát huy sở trường bằng một khẩu quyết duy
nhất : Vạn Pháp Do Duyên, Tùy Thời Tiến Thoái ! “ Ta viết lá
thư này khi các con đă ra đi ba năm mười một tháng. Viết khi
tự biết ḿnh không c̣n lại bao nhiêu thời gian. Viết mà
không biết gửi cho ai, và làm sao gửi. Ta đặt lá thư dưới
nền cổ tháp với một lời ám chỉ mơ hồ trên vách. Ta chỉ xem
đây như một tṛ chơi định mệnh với kết quả thật mong manh.
Hi vọng mai này khi trở lại Túc Châu, ai đó trong số các con
sẽ t́m thấy lá thư này. Nếu được vậy, đúng là duyên phận sư
đồ của chúng ta vẫn c̣n đó…”
Thầy
Đại Chuyết bàng hoàng gấp lại lá thư. Ông lặng người tưởng
lại gương mặt từ bi của sư phụ rồi nghĩ đến số phận của từng
người trong huynh đệ ông từ sau ngày chia tay nhau năm đó ở
Túc Châu. Quá nửa số đó đă bằng mọi cách rời Hoa Lục để t́m
ra hải ngoại. Kẻ sang Nhật, người sang Đài Loan, Hương Cảng,
rồi cả Âu, Phi, Mỹ, Úc. Thành công cũng có, thất bại cũng
nhiều. Chỉ tiếc không ai đọc được lá thư này của thầy để rồi
không ít người đă vong thân ngay trên chính sở đắc của ḿnh.
Lá thư của sư phụ như ngầm chứa những lời cảnh báo nghiêm
trọng và buồn thay, nó đă chính xác một cách tàn nhẫn.
Chiều
hôm đó, Đại Chuyết ra tháp lạy thầy lần cuối rồi lặng lẽ ra
đi với lá di thư cất kỹ trong túi áo như một kỷ vật mà cũng
là món hành trang sắp sửa muộn màng. Ông về lại Ireland với
ngôi thiền thất bé nhỏ của ḿnh bên một bờ nước quạnh hiu
sống bằng số lương ít oi của một giáo sư trợ giảng. Không
đạo tràng, không tiếng tăm, không môn đồ, làm ít lỗi ít. Ông
nhớ măi câu nói đó của sư phụ ngày xưa khi đặt cho ông cái
tên Đại Chuyết.
FL 02/05
TOẠI KHANH
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT