
|
Cùng một cỗ xe
Mahayana và Theravada |
|
|
|
Phật
giáo ngày nay có nhiều tông phái với các truyền thống khác
nhau. Tuy nhiên, chúng ta thường phân biệt hai tông phái
chính: Phật Giáo Đại thừa - Mahayana, và Phật Giáo Nguyên
thủy - Theravada. Phật Giáo Mahayana thịnh hành ở các nước
Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, và Nhật Bản. Trong
khi đó, Phật Giáo Theravada được lưu truyền rộng răi ở Tích
Lan (Sri Lanka), Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt.
Riêng Việt Nam có lẽ là một quốc gia Á Châu đầu tiên mà
cả hai tông phái lớn nầy đều được chính thức thừa nhận và đă
cộng tác hoạt động trong nhiều thập niên qua. Tông phái Đại
thừa có một truyền thống lâu đời và đă có mặt tại Việt Nam
do các tu sĩ Ấn Độ truyền sang vào cuối thế kỷ thứ II C.N
[10, t. 47]. Tông phái Nguyên thủy cũng có mặt tại vùng đất
nầy qua nhiều thế kỷ trong các cộng đồng người Khơ me (Cao
Miên) tại miền Nam Việt Nam, và được truyền bá đến các Phật
tử người Việt trong thập niên 1940 [11, t. 15]. Trong những
năm gần đây lại có những dự án dịch thuật các kinh điển của
cả hai truyền thống, từ các văn bản gốc tiếng Hán và tiếng
Pali, sang tiếng Việt hiện đại.
Trong bài viết ngắn dưới đây, tôi xin mạn phép tŕnh bày
sơ lược về nguồn gốc của Mahayana và Theravada, lồng trong
bối cảnh lịch sử phát triển của đạo Phật tại Ấn Độ trong
khoảng 1000 năm đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.
Tiến tŕnh đó được tạm chia làm ba thời kỳ: thời kỳ nguyên
thủy (100 năm), thời kỳ bộ phái (400 năm), và thời kỳ chuyển
hóa (500 năm).
1. Thời kỳ nguyên thủy
Trong 45 năm truyền dạy đạo pháp, Đức Phật đă để lại rất
nhiều bài giảng, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cho nhiều
người thuộc mọi tầng lớp trong xă hội. Các bài giảng nầy
thường được các vị tu sĩ đệ tử ghi nhớ, sắp xếp lại, truyền
khẩu cho nhau, và dùng để giảng lại cho người khác. Khi được
phân phối đi hoằng dương đạo pháp ở các vùng khác nhau, các
bài giảng nầy thường được chuyển dịch ra tiếng địa phương và
điều nầy được Đức Phật chấp nhận và khuyến khích [1, t. 42].
Có một lần, hai vị đại đức Yamelu và Tekula xin phép Đức
Phật để ghi chép và chuyển dịch những bài giảng của Ngài
sang tiếng Vedic, vốn là văn tự của giới quư tộc dùng để
phúng tụng kinh Vệ Đà, để bảo đảm tính nhất quán và chính
xác của các bài kinh, nhưng Phật không đồng ư. Ngài cho rằng
các bài giảng của Ngài phải được phổ biến đến mọi người qua
ngôn ngữ địa phương để họ có thể nghe, hiểu và thực hành
được [1, t. 43]. Cũng v́ vậy mà dù rằng Đức Phật dùng tiếng
Magadhi (Ma Kiệt Đà) để giảng pháp, nhưng các bài giảng đă
được truyền khẩu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.
Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ma Ha Ca Diếp triệu tập
một hội đồng gồm khoảng 500 tu sĩ tại vùng đồi núi ngoại
thành Vương Xá (Rajagaha) để kết tập kinh điển, sau nầy được
gọi là Đại Hội Kết Tập Lần Thứ Nhất. "Kết tập" có nghĩa là
thu góp, tập hợp lại, ôn lại, đừng để cho tán thất. Tiếng
Phạn là "sangiti", có nghĩa là cùng nhau tụng lại (chanting
together). Trong Đại Hội nầy, ngài Ma Ha Ca Diếp là chủ
quản, ngài A Nan Đa đọc lại các bài kinh giảng và ngài Ưu Ba
Ly đọc lại các điều luật. Sau lần kết tập đầu tiên nầy, bộ
Luật Tạng và bộ Kinh Tạng được đúc kết [2, t. 69]. Lúc ấy,
Kinh Tạng được chia ra thành 4 bộ chính: Trường Bộ, Trung
Bộ, Tương Ưng Bộ, và Tăng Chi Bộ.
2. Thời kỳ bộ phái
Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo được gửi đi các nơi
để hoằng dương đạo pháp, từ miền Trung Ấn đến mạn Nam và mạn
Tây xứ Ấn Độ. Trong thời kỳ nầy có nhiều biến động, thay đổi
bố cục chính trị giữa các vương quốc trong vùng, và v́ thế
có nhiều thay đổi trong sinh hoạt xă hội, tạo ảnh hưởng đến
các sinh hoạt tăng đoàn, nhất là tại những nơi mà Phật giáo
c̣n mới, chưa vững mạnh. Nhiều tu sĩ trẻ trong những vùng
nầy bắt đầu cảm thấy có nhu cầu cần sửa đổi giới luật và lề
lối sinh hoạt để phù hợp với đời sống địa phương.
Một trăm năm sau ngày Đức Phật nhập diệt th́ có một Đại
Hội Kết Tập Lần Thứ II tại thành Vaisali với 700 tu sĩ, mục
đích chính là để giải quyết các tranh chấp về 10 điều luật
căn bản, trong đó có luật cấm các tu sĩ thu nhận vàng bạc do
dân chúng cúng dường [2, t. 80]. Nhưng thêm vào đó, Đại Hội
cũng duyệt lại các kinh điển, và kết tập một số bài kinh
giảng không được đúc kết lúc trước. Đó là những cơ sở để
thành h́nh bộ kinh thứ 5, Tiểu Bộ, về sau nầy [3, t. 50-56].
V́ Đại Hội quyết định giử nguyên 10 điều giới luật căn
bản mà không sửa đổi, một số tu sĩ trẻ không hài ḷng và bắt
đầu có khuynh hướng ly khai. Đây là mầm mống đưa đến sự phân
chia đầu tiên trong tăng đoàn: bộ phái Trưởng Lăo Thuyết Bộ
(Sthaviravada) gồm các tu sĩ có khuynh hướng bảo thủ, và Đại
Chúng Bộ (Mahasanghika) gồm các tu sĩ có khuynh hướng cải
cách [2, t. 81].
Một trăm năm sau đó, một Đại Hội Kết Tập Lần Thứ III được
triệu tập dưới thời vua A Dục (Asoka), 268-232 T.C.N. (Trước
Công Nguyên). Dưới sự chỉ đạo của ngài Mục Kiền Liên Tu Đế
(Moggaliputta Tissa), Đại Hội nầy gồm khoảng 1000 tu sĩ đúc
kết Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng. Kinh Tạng (Sutta Pitaka)
giờ đây gồm 5 Bộ Kinh: Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ, Tương
Ưng, và Tăng Chi [2, t. 109]. Thêm vào đó, tổ chức tăng đoàn
theo truyền thống Trưởng Lăo Thuyết được chấn chỉnh lại theo
đúng các giới luật.
Trong thời kỳ nầy, Đại Chúng Bộ bắt đầu phân chia ra
thành nhiều tông phái. Nhiều nhà sử học ghi nhận có tất cả
bốn lần phân chia, tổng cộng là 7 tông phái trong ṿng 200
năm. Bên cạnh đó, Trưởng Lăo Thuyết Bộ cũng bị phân chia bảy
lần, tạo ra mười một tông phái [2, t. 111]. V́ vậy mà ngày
nay có nhiều sách viết về "mười tám tông phái", cộng thêm
với hai bộ phái đầu tiên [4, t. 123]. Tuy nhiên, cũng có
sách đă liệt kê đến 34 tông phái [2, t. 115].
Vua A Dục là một vị vua rất sùng bái đạo Phật, và đă đóng
góp rất nhiều trong công cuộc phát huy đạo pháp. Ngài đă gửi
nhiều phái đoàn đi truyền giáo nhiều nơi. Trong đó có Đại
đức Mahinda, một trong những người con của ngài, cùng với 4
vị tu sĩ được gửi sang đảo Tích Lan để truyền bá đạo Phật.
Một mặt khác, đạo Phật cũng được phát triển rộng răi ở mạn
Tây Bắc, và trung tâm Phật giáo ở Kashmir trở thành một
trong những trung tâm chính thời đó. Trong thời kỳ nầy, các
tư tưởng Đại thừa bắt đầu thành h́nh, và thâm nhập vào một
vài tông phái của Đại Chúng Bộ, chẳng hạn như tông Thuyết
Xuất Thế Bộ (Lokottaravadin).
3. Thời Kỳ Chuyển Hóa: Theravada
Khi Đại đức Mahinda và phái đoàn truyền giáo sang Tích
Lan, ngài được vua Tích Lan giúp xây cất một ngôi chùa lớn,
gọi là Đại Tự Viện (Mahavihara), và từ đó thành lập tông
phái Đại Tự Viện ở xứ nầy. Một trăm năm sau th́ một ngôi
chùa khác, tự viện Vô Úy Sơn (Abhayagiri), được xây cất và
các tu sĩ ở chùa nầy bắt đầu tạo ảnh hưởng lớn mạnh ở Tích
Lan. Thêm vào đó, cũng có nhiều nhóm tu sĩ với khuynh hướng
đại thừa từ Ấn Độ sang hoạt động tại xứ nầy, nhưng không có
ảnh hưởng sâu rộng. Sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai tông
phái nguyên thủy Đại Tự Viện và Vô Úy Sơn kéo dài qua nhiều
thế kỷ, và chỉ chấm dứt vào khoảng thế kỷ thứ 12, khi nhóm
Đại Tự Viện được vua Parakkamabahu chính thức thừa nhận, kết
tạo thành tông phái Theravada như chúng ta thấy được ngày
nay.
Vào những thập niên cuối cùng trước công nguyên (29-17
T.C.N.), khoảng 500 tu sĩ phái Mahavihara tập họp lại và bắt
đầu cho viết các bộ Kinh, Luật và Thắng Pháp trên một loại
giấy bằng lá bối đa. Lần đầu tiên, sau gần 500 năm truyền
khẩu, ba bộ Tạng được ghi chép hoàn toàn trên lá bối, và từ
đó bộ Tam Tạng kinh điển hệ Pali được tạo ra và lưu truyền
cho đến ngày nay. Đó là Đại Hội Kết Tập Lần Thứ IV. Sở dĩ
văn tự Pali được dùng v́ đó là ngôn ngữ chính thống miền Tây
Ấn và là ngôn ngữ sử dụng bởi ngài Mahinda. Nhờ t́nh trạng
xă hội tương đối ổn định và đảo Tích Lan tương đối biệt lập
nên các bộ Tam Tạng nầy đă được ǵn giữ nguyên vẹn, dù rằng
trong khi sao chép chuyển truyền từ đời nầy sang đời khác,
có thể có một vài sửa đổi, sơ sót. Nhưng đó chỉ là các đoạn
nhỏ, không quan trọng [3, t. 59-60]. Từ đó, Đại Tạng Kinh
được truyền bá sang các nước lân cận như Miến Điện, Thái
Lan, Lào, và Cam Bốt. Ngoài ra, một số các bài luận thuyết
của các danh sư trong thời kỳ nầy, như bộ Thanh Tịnh Đạo
(Visuddhimagga) của ngài Phật Âm (Buddhaghosa) trước tác
trong thế kỷ 4 C.N., bộ Thắng Pháp Tập Yếu Luận
(Abhidhammattha Sangaha) của ngài Anuruđha, ... cũng được
quư trọng, ǵn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay.
Danh từ Theravada là tiếng Pali, đồng nghĩa với chữ
Sthaviravada của tiếng Sanskrit, có nghĩa là giáo thuyết của
các vị trưởng lăo (Doctrine of the Elders). Sách Tàu thường
dịch là Trưởng Lăo Bộ, có khi dịch là Thượng Tọa Bộ, nhưng
dịch sát nghĩa là Trưởng Lăo Thuyết Bộ, là một trong hai bộ
phái chính từ thời kỳ nguyên thủy. Tuy nhiên, danh từ
Theravada ngày nay thường được dùng để chỉ truyền thống Phật
giáo Nam tông, bắt nguồn từ Tích Lan, chịu nhiều ảnh hưởng
của nhóm Đại Tự Viện (Mahavihara), do Đại đức Mahinda và các
tu sĩ thuộc tông phái Phân Biệt Thuyết Bộ (Vibhajyavada),
một nhánh của Trưởng Lăo Thuyết Bộ, truyền bá vào Tích Lan
khoảng 200 năm trước Công nguyên. Có sách cho rằng thật ra,
ngài Mahinda thuộc truyền thống Xích Đồng Diệp Bộ
(Tamrasatiya), bộ phái của các tu sĩ mặc y màu đồng đỏ và là
một nhánh nhỏ của Phân Biệt Thuyết Bộ [12, t.17-18]. So với
các tông phái khác vẫn c̣n hoạt động ngày nay, truyền thống
Theravada có thể được xem như là một truyền thống tương đối
lâu đời nhất, tương đối gần với thời kỳ nguyên thủy nhất.
4. Thời Kỳ Chuyển Hóa: Mahayana
Khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn, phái Đại
Chúng Bộ bành trướng tại nhiều vùng của xứ Ấn Độ và bắt đầu
phân hóa thành nhiều tông phái, trong đó có tông phái
Lokottaravada (Thuyết Xuất Thế). Tuy nhiên, trong thời kỳ
đầu, các tông phái đều sử dụng kinh điển A hàm (Agama) bằng
ngôn ngữ Sanskrit, mặc dù đă có một vài sửa đổi để hàm chứa
tư tưởng đại thừa. Cho đến nay, các sử liệu đều chỉ rằng
kinh điển đại thừa bắt đầu xuất hiện trong những năm cuối
cùng trước Công nguyên, lúc đầu là một vài bài kinh ngắn, về
sau được bổ sung thêm và bành trướng, kết tập lại thành
những bộ kinh lớn.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa biết đích xác là danh xưng
Mahayana - Đại Thừa bắt đầu được sử dụng vào lúc nào, bắt
nguồn từ tông phái nào trong thời kỳ bộ phái. Đầu tiên, danh
xưng Bồ Tát Thừa được dùng, rồi dần dần về sau, danh xưng
Đại Thừa xuất hiện trong các bộ kinh mới. Bộ kinh đầu tiên
có đề cập đến danh xưng nầy là bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Có lẽ đó là kết tụ của những tiến hóa tư tưởng trong mấy
trăm năm sau khi có sự phân hóa tăng đoàn lần đầu tiên. Có
học giả cho rằng Mahayana bắt nguồn từ Đại Chúng Bộ v́ cùng
có những ư niệm phóng khoáng trong giới luật. Tuy nhiên các
ư tưởng của tông phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ
(Sarvastivadin), một tông chính của Trưởng Lăo Bộ, cũng được
thu dụng và hàm chứa trong kinh điển Mahayana. Có học giả
cho rằng Mahayana phát nguồn từ các tu sĩ có tư tưởng cải
cách từ nhiều tông phái khác nhau, như tông Nhất Thuyết Bộ
(Ekavyavaharika), Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravadin), Kế
Dẫn Bộ (Kaukutika), v.v... [2, t. 261].
Kinh điển Đại thừa bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, có hệ
thống hơn, từ thế kỷ 1 C.N. trở về sau. Tiếc rằng các bộ
kinh đầu tiên, như Kinh Duy Ma Cật, Liễu Ba La Mật, Bồ Tát
Tạng, Tam Pháp Kinh, v.v... nay không c̣n nguyên bản
Sanskrit, mà chỉ c̣n dịch bản chữ Hán và Tây Tạng, nên không
thể đối chiếu, truy tầm nguồn gốc [2, t. 276]. Tuy nhiên các
bộ kinh đại thừa quan trọng khác như Đại Bát Nhă, Pháp Hoa,
Hoa Nghiêm, A Di Đà vẫn c̣n các bản gốc tiếng Sanskrit [2,
t. 275-295].
Sự xuất hiện các bộ kinh đại thừa và sau đó là các quyển
luận thuyết của các ngài Mă Minh, Long Thọ, Long Trí, Đề Bà,
Vô Trước, Thế Thân trong bốn thế kỷ đầu Công nguyên đánh dấu
sự thành h́nh và bành trướng nhanh chóng của Phật giáo
Mahayana trong toàn xứ Ấn Độ. Ảnh hưởng nầy đă dần dần lan
rộng sang Trung Hoa, và từ đó có những phong trào truyền bá,
chuyển dịch kinh điển ở Trung Hoa qua nhiều thế kỷ, từ thế
kỷ 1 đến thế kỷ 7 C.N., qua ba ngơ giao thông chính: đầu
tiên là qua miền Trung Á, qua ngơ Nepal - Tây Tạng, và bằng
đường biển.
5. Cùng một cỗ xe: Pháp thừa (Dhammayana)
Tóm lại, trong 100 năm sau khi Đức Phật tịch diệt, giữa
Đại Hội Kết Tập Lần I và II, Đạo Phật được xem như là ở
trong thời kỳ nguyên thủy, với một tăng đoàn tương đối c̣n
ít, có nhiều liên hệ chặt chẻ, giới luật thuần nhất, dưới sự
lănh đạo của các cao tăng vốn đă xuất gia và thọ giới khi
Đức Phật c̣n tại thế.
Sang thời kỳ bộ phái, kéo dài khoảng 400 năm từ sau Đại
Hội II cho đến đầu Công nguyên, các mầm mống phân hoá đă bắt
đầu xuất hiện, với sự phân chia thành hai Bộ, và sau đó tiếp
tục phân hóa thành 18 tông. Qua Đại Hội III được tổ chức
dưới triều vua A Dục, việc kết tập Kinh Tạng và Thắng Pháp
Tạng xem như đă hoàn tất. Mặc dù trong thời kỳ nầy các kinh
A Hàm và giới luật nguyên thủy vẫn được các tông phái tôn
trọng - với những cách diễn dịch khác nhau - các ư tưởng
canh tân, đại chúng hóa đạo pháp bắt đầu thành h́nh, nhất là
trong thế kỷ cuối cùng trước Công nguyên.
Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ chuyển hóa, kéo dài khoảng
500 năm cho đến đầu thế kỷ 6. Trong thời kỳ nầy, Phật giáo
bắt đầu có hai hướng phát triển khác nhau, và kéo dài ảnh
hưởng đến ngày nay. Từ Ấn Độ, đạo Phật được truyền về hướng
Nam, sang đảo Tích Lan, và tạo lập một căn bản vững chắc ở
đó. Đại Hội Kết Tập lần IV tại Tích Lan đánh dấu việc ghi
chép toàn bộ Tam Tạng Kinh - Luật - Thắng Pháp trên lá bối,
và được lưu truyền cho đến ngày nay qua truyền thống
Theravada.
Cũng trong thời kỳ nầy, các tư tưởng canh tân của Đại
thừa đă bắt đầu tạo ảnh hưởng lớn mạnh, qua các bộ kinh điển
mới và qua các bộ luận thuyết của các danh tăng vào giữa và
cuối thời kỳ nầy. Các tông phái Đại thừa bắt đầu xuất hiện
và tăng trưởng nhanh chóng. Đạo Phật truyền sang mạn Tây
Bắc, tạo lập trung tâm Phật giáo ở Kashmir, và từ đó truyền
vào Trung Hoa.
Khi đạo Phật bắt đầu bành trướng ở Trung Hoa, tăng đoàn ở
đó đă thu nhận và chuyển dịch rất nhiều kinh điển, từ nhiều
nguồn gốc và tông phái khác nhau, và qua nhiều thời kỳ lịch
sử. Các bộ Tam Tạng nguyên thủy được dịch ra chữ Hán từ hai,
ba tông phái khác nhau, chẳng hạn như từ tông Thuyết Xuất
Thế Bộ và Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Các bộ kinh chính của
Đại thừa cũng thế, có nhiều thay đổi theo thời gian, và được
bổ sung, sửa chữa nhiều lần. Có khi các bộ kinh nầy chỉ được
truyền khẩu bằng tiếng Phạn vào Trung Hoa, rồi sau đó mới
được dịch, giản lược, nhuận sắc và ghi chép lại [5, t.
365-368]. Có khi các danh tăng Trung Hoa du hành sang Ấn Độ
học tập rồi mang về các bộ kinh điển để phiên dịch và phổ
biến trong nước. Cũng có những bộ kinh không có nguồn gốc rơ
ràng và có lẽ đă được trước tác tại Trung Hoa. Ngài Đạo An
trong thời Đông Tấn, thế kỷ thứ 4 CN, đă từng đặt vấn đề
"kinh nghi ngụy" để xác định kinh thật, kinh giả. Cả hai
truyền thống chính -- Theravada và Mahayana -- đều có mặt
tại xứ nầy trong thời gian đó.
Để sắp xếp và thống nhất nguồn gốc của các loại kinh
điển, các tăng sĩ thời đó đă đưa ra nhiều giả thuyết khác
nhau (các học thuyết "phán giáo"). Trong đó, thuyết của ngài
Trí Giả, tông Thiên Thai , là phổ thông nhất và vẫn c̣n thấy
lưu dụng cho đến ngày nay trong một số sách Phật giáo. Ngài
cho rằng Đức Phật đă giảng kinh pháp trong 5 thời kỳ (ngũ
thời phán giáo): Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, và
Pháp Hoa - Đại Niết Bàn [5, t. 442], và v́ thế có nhiều loại
kinh điển từ nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên, đây chỉ
là một lối giải thích chủ quan để tổng hợp, hệ thống hóa
toàn bộ kinh điển và biện minh sự siêu việt của Pháp Hoa
tông mà thôi. Giả thuyết nầy không có chứng liệu lịch sử, và
không được các nhà nghiên cứu sử học Phật giáo ngày nay công
nhận [5, t. 305-310; 6, t. 151-152].
Tại Tích Lan cũng thế, trong những thế kỷ đầu tiên, cả
hai truyền thống Mahayana và Theravada đều có mặt tại xứ
nầy, mặc dù truyền thống Theravada có ảnh hưởng mạnh hơn,
như ngài Pháp Hiển đă ghi nhận trong quyển Phật Quốc Kư [8,
Ch. 2]. Ngài cũng ghi nhận là có các nhóm tu sĩ phái Đại Tự
Viện, tuy là Theravada nhưng có tinh thần đại thừa rất cao
[2, t. 275]. C̣n tại Ấn Độ, các ngài Huyền Trang [9] và Pháp
Hiển đều ghi nhận sự hoạt động hài ḥa của nhiều tông phái
khác nhau trong nhiều thế kỷ.
Ở Việt Nam, cả hai tông phái Mahayana và Theravada đều
được công nhận và cùng chung nhau hoạt động trong công tác
hoằng dương đạo pháp. Hiến chương Phật giáo Việt Nam soạn ra
năm 1963 đă chính thức xác nhận điều đó [4, t. 394]. Tuy
nhiên, để tránh hiểu lầm, chúng ta không nên dùng chữ "Tiểu
thừa" để gọi tông phái Theravada. Điều nầy thường gặp trong
một số sách báo và bài viết về đạo Phật. Thật ra, "Tiểu
thừa" là dịch từ chữ "Hinayana" -- cỗ xe nhỏ -- một chữ dùng
rất nhiều trong kinh điển và luận thuyết Đại thừa, có hàm ư
chê bai, khinh miệt. Có lẽ đây là một dụng ư thâm sâu của
các tu sĩ luận sư Đại thừa để chê bai các bộ phái nguyên
thủy, bởi v́ nếu họ chỉ có ư muốn diễn tả một cỗ xe nhỏ th́
danh từ "Culayana" có ư nghĩa chính xác và nghiêm túc hơn.
Cũng cần ghi nhận ở đây là các danh xưng Đại thừa và Tiểu
thừa chỉ thấy đề cập trong kinh luận Mahayana xuất hiện về
sau, mà không thấy trong kinh điển nguyên thủy. Trong hệ
Pali Nikaya cũng như hệ Hán tạng A-hàm, Đức Phật có dạy ngài
Ananda về một cỗ xe Pháp duy nhất,
Pháp thừa (Dhammayana),
đó là Con Đường Tám Chánh (Bát Chánh Đạo), như đă ghi lại
trong Tương Ưng Bộ và Tạp A-hàm (SN XLV.4, SA 769):
"Này
Ananda, Con Đường Tám Chánh nầy là đồng nghĩa với cỗ xe tối
thượng, là cỗ xe Pháp, là sự chiến thắng vô thượng trong mọi
chiến trận nhiếp phục tham, sân, si."
Khi đọc kinh điển, chúng ta cần phải
hiểu rơ hoàn cảnh lịch sử xă hội khi các kinh nầy được tạo
ra. Các kinh Đại thừa được trước tác và xuất hiện vào cuối
thời kỳ bộ phái, nghĩa là khoảng 400-500 năm sau khi Đức
Phật tịch diệt. Đây là các tư tưởng cải cách để đại chúng
hóa đạo Phật, đối kháng lại đường lối thủ cựu, giáo điều,
chấp kiến và vị kỷ của một số tu sĩ trong giới lănh đạo tăng
đoàn của nhiều tông phái thời bấy giờ, chứ không phải để ám
chỉ riêng biệt một tông phái nào cả [2, t. 257].
Khuynh hướng ngày nay là dùng chữ Mahayana và Theravada
nguyên ngữ để chỉ hai tông phái chính nầy. Khi dịch sang
Việt ngữ, thường th́ chúng ta dùng danh từ Phật Giáo Đại
Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy, nhưng cũng có sách dùng danh
từ Phật Giáo Bắc Truyền (Bắc Tông) và Phật Giáo Nam Truyền
(Nam Tông) để chỉ hướng truyền đạo của Phật Pháp trong thời
kỳ chuyển hóa [7, t. 202]. Gần đây lại thấy có sách dùng
danh xưng Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) và Phật Giáo
Phát Triển (Mahayana) cho hai hệ phái chính ở Việt Nam [13,
t. 7].
Dù là tông phái nào đi nữa, đó cũng chỉ là giáo pháp
phương tiện giúp ta tu tâm tịnh ư để được an lạc và giải
thoát. Cần phải hiểu rơ nguồn gốc và hoàn cảnh lịch sử trong
tiến tŕnh phát triển các bộ kinh điển và tông phái, để có
được một sự thông cảm, ḥa đồng và tương kính. Trong kinh
Pháp Hoa, Phật có nói: "Chư
Phật chỉ dùng một cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (Nhất
thừa Phật đạo), không có hai mà cũng chẳng có ba",
và trong Tiểu Bộ và Tăng Chi Bộ của kinh tạng nguyên thủy,
Ngài cũng dạy rằng: "Như tất
cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của
Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát."
B́nh Anson,
Perth, Western Australia
Tháng 04, 1996
Hiệu đính: Tháng 10, 1999
Tham Khảo
[1]. Thích Nhất Hạnh (1990), Con đường
chuyển hóa. NXB Lá Bối, San Jose.
[2]. Hirakawa Akira (1993), A history of Indian Buddhism.
Motilal Banarsidass, Delhi
[3]. Samanera Bodhesakho (1984), Beginnings: The Pali
Suttas. Buddhist Publication Society, Kandy.
[4]. Thích Đức Nhuận (1983), Phật học tinh hoa. Phật học
viện Quốc tế, California.
[5]. Kenneth Chen (1964), Buddhism in China. Princeton
University Press, Princeton.
[6]. Noble R. Reat (1994), Buddhism - A history. Asian
Humanities Press, Berkeley.
[7]. Thích Minh Châu và Minh Chi (1991), Từ điển Phật học
Việt Nam. NXB Khoa học xă hội, Hà Nội.
[8]. Thích Minh Châu (1997), Pháp Hiển -- Nhà chiêm bái.
Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Sài G̣n.
[9]. Thích Minh Châu (1988), Huyền Trang -- Nhà chiêm bái và
học giả. Phật học viện Quốc tế, California.
[10]. Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật Giáo Việt Nam.
Chùa Xá Lợi. Sài G̣n.
[11]. Lê Minh Qui (1981), Ḥa thượng Hộ Tông. Trung tâm
Narada, Seatle.
[12]. Thích Nhất Hạnh (1993), Kinh Người áo trắng. NXB Lá
Bối, San Jose.
[13]. Thích Thanh Từ (1999), Chánh tín và mê tín. Nguyệt san
Giác Ngộ, số 35, tháng 2-1999, Sài G̣n.
|
Đạo Phật Nguyên Thủy tại Việt Nam |
|
Đạo
Phật truyền đến Việt Nam vào khoảng đầu thế kỷ Công Nguyên
(1). Đến cuối thế kỷ thứ hai, Việt Nam đă thành lập được một
trung tâm Phật Giáo quan trọng trong vùng, thường được gọi
là trung tâm Phật Giáo Luy Lâu, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh,
phía bắc thành phố Hà Nội. Luy Lâu là thủ đô của xứ Giao
Chỉ, tên cũ của Việt Nam, và là một trạm nghỉ chân quen
thuộc của các nhà truyền giáo đạo Phật người Ấn Độ, trên
hành tŕnh sang Trung Hoa theo đường biển của các thương gia
Ấn đi từ bán đảo Ấn Độ. Một số kinh điển Đại Thừa và A-hàm
đă được dịch sang Hoa văn tại đó, chẳng hạn như kinh Tứ Thập
Nhị Chương, An Ban Thủ Ư, Kinh Bổn Sanh, Kinh Mi-lan-đa Vấn
Đạo, v.v.
Trong 18 thế kỷ kế tiếp, v́ điều kiện địa lư gần Trung
Hoa và hai lần lệ thuộc xứ nầy, Việt Nam và Trung Hoa có
chung nhiều sắc thái di sản văn hóa, triết học và tôn giáo.
Phật Giáo VN phản ánh nhiều ảnh hưởng của các phát triển hệ
Đại Thừa tại Trung Hoa, với các tông phái Thiền, Tịnh và
Mật.
Phần đất phía nam của Việt Nam ngày nay đầu tiên có người
Chàm và Cam Bốt (Khơ-me) trú ngụ, và họ theo cả hai truyền
thống Đại Thừa Ấn Độ và Phật Giáo Nguyên Thủy, mặc dù có lẽ
là người Chàm đă theo truyền thống Nguyên Thủy từ thế kỷ 3
CN và người Cam Bốt chỉ bắt đầu theo Nguyên Thủy vào thế kỷ
12 (2). Người Việt bắt đầu xâm chiếm và thu nhập phần đất
nầy vào thế kỷ 15, và đến thế kỷ 18, h́nh dạng của quốc gia
Việt Nam như hiện nay được hoàn tất. Từ đó, sắc tộc Việt
theo Phật Giáo Đại Thừa, trong khi sắc tộc Khơ-me theo
truyền thống Nguyên Thủy, cả hai truyền thống nầy cùng chung
nhau hiện hữu an ḥa.
Trong thập niên 1920 và 1930, ở Việt Nam có nhiều phong
trào hồi sinh và canh tân các hoạt động Phật Giáo. Song song
với sự chỉnh đốn các tổ chức Đại Thừa c̣n có nhiều chú tâm
đến các hoạt động của truyền thống Nguyên Thủy, về hành
thiền và các kinh sách dựa theo kinh tạng Pali, nhưng viết
bằng tiếng Pháp. Trong số những người tiền phong truyền bá
đạo Phật Nguyên Thủy vào Việt Nam có một vị bác sĩ thú y trẻ
tên là Lê Văn Giảng. Ông sinh ra ở miền Nam, nhưng đi học ở
Hà Nội, và sau khi tốt nghiệp, ông được cử sang làm việc tại
Phnom Penh (Nam Vang) cho chính quyền Pháp.
Trong thời gian đó, ông bắt đầu để tâm đến đạo Phật. Ông
theo học các pháp môn Tịnh độ và Mật tông, nhưng không thỏa
măn. T́nh cờ ông gặp vị Phó Tăng Thống Cam Bốt, và được vị
sư nầy giới thiệu một quyển sách tiếng Pháp, viết về
Bát-Chánh Đạo. Ông rất xúc động khi đọc những lời giảng rơ
ràng trong quyển sách đó và quyết tâm hành tŕ theo truyền
thống nầy. Ông học pháp hành thiền quán hơi thở
(anapanasati) từ một vị tăng Cam Bốt tại chùa Unalom và đạt
được mức thiền định rất cao. Ông tiếp tục hành tŕ theo pháp
môn nầy và vài năm sau quyết định xuất gia, với pháp danh là
Hộ-Tông (Vansarakkhita) (3).
Vào năm 1940, khi được một người bạn thân, ông Nguyễn Văn
Hiểu, và một số Phật Tử Việt thỉnh mời, Tỳ kheo Hộ Tông trở
về Việt Nam và giúp thiết lập chùa Bửu Quang ở G̣ Dưa, Thủ
Đức. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Phật Giáo Nguyên Thủy
Việt Nam. Sau đó, Ḥa Thượng Chuon Nath, vị Tăng Thống Phật
Giáo Cam Bốt cùng với 30 vị tỳ kheo Cam Bốt đă đến ngôi chùa
nầy để làm lễ kết giới Sima. Năm 1947 chùa bị quân Pháp tàn
phá, và được trùng tu vào năm 1951 (4).
Tại chùa Bửu Quang, ngài Hộ Tông cùng với các vị tỳ kheo
Việt khác, trước đó đă thọ giới và tu học tại Cam Bốt, như
quư ngài Thiện Luật, Bửu Chơn, Kim Quang, Giới Nghiêm, Tịnh
Sự, Tối Thắng, Giác Quang, Ẩn Lâm, bắt đầu truyền giảng Phật
Pháp bằng tiếng Việt. Ngài cũng phiên dịch nhiều kinh điển
từ kinh tạng Pali, và từ đó, Phật Giáo Nguyên Thủy trở thành
một trong những hoạt động của Phật Giáo Việt Nam.
Vào năm 1949-1950, ngài Hộ Tông cùng với ông Nguyễn Văn
Hiểu và một số cư sĩ thiện tâm đứng ra xây dựng chùa Kỳ Viên
tại Bàn Cờ, Quận Ba, Sài G̣n. Từ đó, Kỳ Viên Tự trở thành
một trung tâm chính của các hoạt động Phật Giáo Nguyên Thủy,
và càng ngày càng thu hút nhiều Phật tử. Năm 1957, Giáo Hội
Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam chính thức được thành lập, và
Tăng đoàn Nguyên Thủy đề cử ngài Hộ Tông làm vị Tăng Thống
đầu tiên của Giáo Hội.
Trong thời kỳ đó, các hoạt động Phật sự được tăng cường
với sự hiện diện của Ḥa Thượng Narada đến từ Tích Lan. Ngài
Narada đă từng đến Việt Nam vào thập niên 1930 và có mang
nhiều nhánh cây bồ đề để trồng tại nhiều nơi trong toàn xứ.
Trong những lần viếng thăm vào thập niên 1950 và 1960, ngài
đă thu hút được nhiều Phật tử đến với truyền thống Nguyên
Thủy, trong số đó có một nhà dịch giả nổi tiếng là ông Phạm
Kim Khánh. Ông Khánh đă xin quy y Tam Bảo với ngài, với pháp
danh là Sunanda. Ông đă từng dịch nhiều sách của ngài
Narada, trong đó có quyển Đức Phật và Phật Pháp, Phật Giáo
Tóm Lược, Kinh Tứ Niệm Xứ, Kinh Pháp Cú, Cẩm Nang Vi Diệu
Pháp, Tứ Vô Lượng Tâm, Những Bước Thăng Trầm, v.v. (5). Ông
Khánh hiện đang ngụ tại Hoa Kỳ, dù đă trong tuổi 80, vẫn
tích cực dịch thuật các sách Phật Pháp của các vị thiền sư
nổi tiếng Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan.
Từ Sài G̣n, đạo Phật Nguyên Thủy được truyền bá đến các
tỉnh thành khắp miền nam và miền trung nước Việt và nhiều
chùa được thiết lập. Theo thống kê năm 1997, có tất cả 64
chùa Nguyên Thủy, trong đó có 19 chùa tại Sài G̣n (6). Ngoài
chùa Bửu Quang và Kỳ Viên, c̣n có nhiều chùa nổi tiếng khác
như chùa Bửu Long, Giác Quang, Phổ Minh, Tam Bảo (Đà Nẵng),
Thiền Lâm và Huyền Không (Huế), và Thích Ca Phật Đài ở Vũng
Tàu.
Trong thập niên 1960 và 1970, nhiều vị tỳ kheo được gửi
đi tu học nước ngoài, đông nhất là tại Thái Lan, và một vài
vị khác tại Tích Lan và Ấn Độ. Chương tŕnh tu học nầy được
thiết lập trở lại trong những năm gần đây, và hiện có khoảng
20 vị đang tu học tại Miến Điện.
Trong lịch sử, có một sự liên hệ khắng khít giữa tăng
đoàn Việt Nam và Cam Bốt. Cũng cần ghi nhận ở đây là vào năm
1979, sau khi nhóm Khơ-me Đỏ bị đánh đuổi ra khỏi Phnom
Penh, Ḥa Thượng Bửu Chơn và Giới Nghiêm cùng với một đoàn
tỳ kheo Việt Nam đă đến thành phố này để tái truyền giới cho
7 vị tỳ kheo Cam Bốt và phục hồi Tăng đoàn Cam Bốt, vốn đă
bị nhóm Khơ-me Đỏ tiêu diệt khi họ nắm quyền (7).
Kinh điển Phật Pháp bằng Việt ngữ được dịch ra từ 2
nguồn: Tam tạng Pali và Hán tạng A-hàm, cùng với nhiều kinh
điển Đại Thừa khác. Từ thập niên 1980, một chương tŕnh
phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đă được thành
lập và xúc tiến, với sự đóng góp của nhiều vị cao tăng học
giả của Bắc tông lẫn Nam tông. Đến nay, 27 quyển kinh dịch
từ 4 bộ Nikaya, do Ḥa Thượng Minh Châu dịch, và 4 bộ A-hàm,
do Ḥa Thượng Trí Tịnh, Thiện Siêu, và Thanh Từ dịch, đă
được phát hành. Công tác dịch thuật bộ Nikaya thứ 5 hiện
đang được tiến hành. Thêm vào đó, toàn bộ 7 tập Vi Diệu Pháp
(A tỳ đàm, Abhidhamma) do Ḥa Thượng Tịnh Sự dịch cũng đă
được phát hành, cùng với các bộ Kinh Pháp Cú, Mi-lan-đa vấn
đạo, Thanh Tịnh Đạo, Thắng Pháp Tập Yếu Luận, và nhiều tác
phẩm khác.
Tóm lại, mặc dù Phật Giáo Việt Nam chủ yếu là theo truyền
thống Đại Thừa, truyền thống Nguyên Thủy cũng được công nhận
và hiện nay có nhiều quan tâm đến các pháp hành thiền Nguyên
Thủy, kinh điển Nikaya và A-hàm, và bộ Vi Diệu Pháp.
B́nh Anson,
tháng 6, 1999
Tham Khảo
(1) Nguyễn Lang, 1973. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển
1.
(2) Andrew Skilton, 1994. A Concise History of Buddhism.
(3) Lê Minh Qui, 1981. Ḥa Thượng Hộ Tông.
(4) Nguyễn Văn Hiểu, 1971. Công tác xây dựng Phật Giáo
Nguyên Thủy tại Việt Nam.
(5) Phạm Kim Khánh, 1991. Narada Maha Thera.
(6) Tuần báo Giác Ngộ, số 63, 14-06-1997, Sài G̣n.
(7) Thích Đồng Bổn, 1996. Tiểu sử Danh tăng Việt Nam.
Sơ lược lịch sử Phật giáo Ấn độ
sau thời đức Phật
Thích Tâm Hải
Dẫn nhập
Từ
Ấn Độ, Phật giáo được truyền bá rộng răi và trở thành một
trong những tôn giáo lớn của nhân loại. Ấn Độ là nơi xuất
phát của Phật giáo nên việc t́m hiểu lịch sử Phật giáo Ấn Độ
trở thành một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực Phật học.
Ở đầu chương tŕnh của năm học thứ nhất (xem PHCB Tập 1),
chúng ta đă được giới thiệu về lịch sử của Đức Phật Thích Ca
mâu Ni, sau đó chúng ta cũng đă được học các vấn đề giáo lư
cơ bản. Do đó, tiếp theo đây, chúng ta sẽ t́m hiểu sơ lược
về lịch sử Phật giáo Ấn Độ sau thời Đức Phật diệt độ, tạm
gọi là qua ba thời kỳ: thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
(Theravada), thời kỳ Phật giáo Bộ phái (Abhidhamma),
và thời kỳ Phật giáo Phát triển (Mahayanà).
Nội dung
A. Thời
kỳ Phật giáo Nguyên thủy
Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) được tính từ
thời Đức Phật tại thế đến thời điểm sau khi Ngài diệt độ
khoảng một trăm năm. Như đă nói, lịch sử ở giai đoạn Đức
Phật tại thế, chúng ta đă được học qua trong phần lịch sử
của Ngài, nên ở đây chỉ điểm lại một vài nét đặc thù về tổ
chức Giáo hội của thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy và sự kiện
nổi bật là Hội nghị kết tập kinh điển đầu tiên trong lịch
sử.
I- Vài nét về tổ chức Giáo
hội
Giáo hội thời Đức Phật đă có đủ bốn chúng là Tăng, Ni,
nam cư sĩ và nữ cư sĩ; h́nh thành hai thành phần là xuất gia
và tại gia. Giáo hội này do Đức Phật sáng lập, tổ chức và
trực tiếp điều hành; với những uy đức và trí tuệ lớn của
Ngài, nên Giáo hội được tổ chức khéo léo, là một cơ thể
thống nhất hữu cơ, luôn đặt mục tiêu tu tập để đạt đến giải
thoát, giác ngộ lên hàng đầu. Đặc biệt, Tăng đoàn (đoàn thể
những người xuất gia) có sự hiện diện của nhiều vị chứng ngộ
các quả Thánh (1). Giáo hội được tổ chức trên cơ sở của sự
b́nh đẳng, tôn trọng giới luật, đề cao trí tuệ của sự tu
chứng; không phân biệt thành phần xă hội, tuổi tác và giới
tính.
Mặc dù vậy, trong Giáo hội vẫn có một vài vị Tỷ kheo sống
bất tuân giới luật, cố t́nh gây chia rẽ Giáo hội, như trường
hợp của Tỷ kheo Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) - em họ của Đức
Phật - mà sử liệu đă ghi lại...; bên ngoài th́ có những công
kích của ngoại đạo ác cảm với sự thật mà Đức Phật đă tuyên
bố và chủ trương của Giáo hội do Ngài lănh đạo, nhưng Giáo
hội vẫn giữ vững đặc trưng thanh tịnh và ḥa hợp.
Về giáo lư, Đức Phật là người trực tiếp truyền dạy cho
các đệ tử của Ngài. Mọi vấn đề hoài nghi đối với đường lối
tu tập, giới luật... đều được Ngài giải quyết một cách cụ
thể, rơ ràng trên cơ sở của trí tuệ mà Ngài đă chứng nghiệm,
nên không hề có những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra trong Giáo
hội nói chung và Tăng đoàn nói riêng. Có thể nói, tổ chức
Giáo hội thời Đức Phật là một tổ chức hoàn chỉnh, hiệu năng
và thuần nhất, mọi thành viên đều sống trong tinh thần của
giới - định - tuệ, cùng tôn xưng Đức Phật là Đấng Giác Ngộ
có trí tuệ vĩ đại, xứng đáng là bậc Thầy của trời và người.
Sau thời Đức Phật diệt độ, Tôn giả Đại Ca Diếp (Maha
Kassapa) thay Ngài lănh đạo Giáo hội, thành phần Thánh tăng
trong Giáo hội hiện diện c̣n nhiều nên đặc trưng của Giáo
hội, như đă đề cập trên, vẫn được duy tŕ măi cho đến Hội
nghị kết tập kinh điển lần thứ hai, tức khoảng một trăm năm
sau Phật diệt độ, mới có những bất đồng về giới luật gay
gắt, đưa đến sự phân hóa về tổ chức Giáo hội.
II- Hội nghị kết tập kinh
điển lần thứ nhất
1)- Lư do kết tập:
Sau khi Đức Phật diệt độ không lâu, mầm mống của những
kiến giải bất đồng về lời Ngài dạy dần dần nảy sinh trong
Giáo hội. Điều này không có ǵ là bất ngờ, nguyên v́ khi Đức
Phật tại thế, lời giảng pháp của Ngài chỉ được truyền miệng
mà không ghi thành văn bản; và pháp mà Ngài nói là bất định
pháp, tùy theo căn cơ, tŕnh độ của mỗi người, nhóm người...
Phương pháp thuyết giảng rất linh động, nên sự nhận thức về
nội dung Phật pháp bất đồng là đương nhiên. Thêm vào đó, khi
hay tin Đức Phật diệt độ, có một Tỳ kheo phóng túng reo mừng
rằng từ nay không c̣n bị ràng buộc bởi sự nhắc nhở của Đức
Phật: "điều này nên làm", "điều kia không nên làm"... Lời
này đă đến tai Tôn giả Đại Ca Diếp. Trước thực trạng đó, Tôn
giả lo ngại rằng Phật pháp mà Đức Thế Tôn giảng dạy có thể
bị xuyên tạc và phá hoại trong tương lai, nên Tôn giả với
vai tṛ là trưởng tử của Đức Phật, đă khẩn cấp triệu tập các
Thánh đệ tử của Ngài, để ôn lại lời Phật dạy và củng cố Tăng
đoàn. Sau này, gọi đây là Hộại nghị kết tập kinh điển lần
thứ nhất.
2)- Diễn tiến và kết quả:
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ nhất do Tôn giả Đại Ca
Diếp chủ trương, vua A Xà Thế (Ajatasatu) trị v́ nước Ma
Kiệt Đà (Maggadha) bảo trợ; tổ chức tại thành Vương Xá
(Rajagaha), với sự tham dự chính thức gồm năm trăm vị A La
Hán dưới sự chủ tọa của Tôn giả Đại Ca Diếp. Tôn giả A Nan
(Ananda) phụ trách tuyên tụng lại phần kinh, Tôn giả Ưu Ba
Li (Upali) tuyên tụng phần luật. Có tài liệu ghi rằng, hội
nghị đă diễn ra trong thời gian là bảy tháng mới kết thúc.
Phương pháp kết tập là trùng tụng bằng kư ức (2), chưa
ghi thành văn bản. Những điều được các vị A La Hán xác
quyết, sau này được ghi thành bốn bộ A Hàm (Agama):
1. Kinh Trường A Hàm (Digha agama)
2. Kinh Trung A Hàm (Majjhima agama)
3. Kinh Tăng Nhất A Hàm (Anguttara agama)
4. Kinh Tạp A Hàm (Samyutta agama)
Nội dung nhằm ôn lại những lời thuyết
pháp và sinh hoạt thường nhật của Đức Phật cùng Thánh chúng
đệ tử của Ngài. Ở Hội nghị kết tập lần này, chỉ mới h́nh
thành kinh và luật tạng. Đây là những kư lục được xem như là
tài liệu cổ xưa nhất ghi lại cuộc đời của Đức Phật và sinh
hoạt của Giáo hội thời Ngài tại thế, là căn bản cho tư tưởng
Phật giáo thời kỳ Nguyên thủy.
Hội nghị này, về sau c̣n được gọi là "Ngũ bách kết tập"
(Hội nghị kết tập kinh điển của năm trăm vị A La Hán).
B. Thời kỳ Phật giáo Bộ
phái
Thời kỳ Phật giáo Bộ phái ở đây được dùng như là khái
niệm phân kỳ lịch sử, chỉ cho thời kỳ khởi đầu diễn ra sự
phân hóa của Giáo hội thành hai bộ, rồi từ hai bộ tiếp tục
phân hóa và h́nh thành thêm mười tám bộ phái, tức khoảng đầu
trăm năm thứ hai đến cuối trăm năm thứ tư sau Phật diệt độ
(thế kỷ II sau TL). Trong thời kỳ này cũng đă diễn ra các
hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai, thứ ba và thứ tư. Để
cho học viên tiện theo dơi, trước hết chúng ta sẽ t́m hiểu
sơ lược về các hội nghị kết tập kinh điển tiếp theo, sau đó
sẽ đi vào t́nh h́nh của sự phân hóa các bộ phái một cách cụ
thể.
I- Các hội nghị kết tập kinh
điển lần thứ hai, thứ ba và thứ tư
1)- Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai:
a/- Lư do kết tập:
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai diễn ra sau Hội
nghị kết tập lần thứ nhất khoảng một trăm năm. Nguyên nhân
đưa đến hội nghị kết tập kinh điển lần này là do một số Tỳ
kheo sống tại thành phố Phệ Xá Li (Vesali) đề xướng mười
điều không có trong giới luật do Phật chế, nhưng họ tự cho
là hợp pháp. Mười điều đó bao gồm:
1. Diêm tịnh: thức ăn ướp muối
để cách đêm vẫn được dùng.
2. Chỉ tịnh: có thể ăn quá giờ ngọ một chút, trong
khoảng thời gian mặt trời xế bóng chừng hai lóng tay.
3. Tụ lạc gian tịnh: được ăn thêm lần nữa nếu đến
làng khác mà chưa quá ngọ.
4. Trụ xứ tịnh: ở đâu th́ bố tát tại đó.
5. Tùng ư tịnh: những quyết định đă thông qua, dù đa
phần hay thiểu số, đều có hiệu lực.
6. Cửu trụ tịnh: làm theo thói quen tiền lệ vẫn không
trái với giới luật.
7. Sinh ḥa hợp tịnh: sau giờ ngọ, có thể uống nước
pha với sữa.
8. Bất ích lũ ni sư đàn tịnh: tọa cụ nếu không có
viền chung quanh th́ có thể dùng khổ lớn hơn quy định.
9. Thủy tịnh: có thể dùng rượu pha với nước để uống
trong trường hợp chữa bệnh.
10. Kim tiền tịnh: trong trường hợp cần thiết, Tỳ
kheo có thể giữ tiền bạc.
Lúc bấy giờ, có một vị trưởng lăo tên
là Da Xá (Yasa), nhân du hành đến Phệ Xá Li (Vesali), chứng
kiến một số Tỳ kheo sống theo những điều trên, Ngài rất ngạc
nhiên bèn đến trước công chúng tuyên bố rằng mười điều trên
là hoàn toàn phi pháp. Các Tỳ kheo đó phản ứng với Ngài và
buộc Tôn giả Da Xá phải sám hối trước công chúng, nhưng Tôn
giả không chấp thuận và bỏ trốn về thành Kiều Thưởng Di
(Kosambi) và rồi đi vận động các vị trưởng lăo Tăng già tổ
chức hội nghị kết tập kinh điển để xác quyết chánh pháp và
phi pháp.
b/- Diễn tiến và kết quả:
Hội nghị kết tập kinh điển lần này tập hợp bảy trăm vị Tỳ
kheo, tổ chức tại thành Phệ Xá Li (Vesali) trong khoảng tám
tháng. Hội nghị đă cử chủ tọa đoàn gồm tám vị cao tăng, bốn
vị ở phương Tây và bốn vị ở phương Đông.
Bốn vị ở phương Tây gồm có:
1. Ngài Li Bà Đa (Revata)
2. Ngài Tam Phù Đà (Sambhùta)
3. Ngài Da Xá (Yasa)
4. Ngài Tu Ma Na (Sumana)
Bốn vị ở phương Đông gồm có:
1. Ngài Khuất Xà Tu T́ Đa
(Khùjjasobhita)
2. Ngài Sa Lưu (Sàtha)
3. Ngài Bồ Tát Bà Già Ni (Vàsabhagàmi)
4. Ngài Bồ Tát Ca Mi (Sabhakàmi)
Mục đích của Hội nghị kết tập thứ hai
không đơn thuần chỉ nhằm việc xác quyết mười điều (đă nêu
trước) là phi pháp hay hợp pháp mà c̣n để củng cố kinh, luật
Phật dạy, không để cho các học thuyết ngoại đạo trà trộn
vào. Về "mười điều phi pháp", Hội nghị đă không có sự đồng
nhất quan điểm. Một số đông Tỳ kheo không tán thành việc cho
rằng mười điều trên là phi pháp bèn tổ chức một hội nghị kết
tập riêng và thành lập Đại chúng bộ (Mahàsamghika);
số các trưởng lăo c̣n lại cho rằng mười điều trên là hoàn
toàn phi pháp vẫn tiếp tục công tác kết tập kinh điển, sau
đó h́nh thành Thượng tọa bộ (Theravada).
Như vậy, điều nổi bật ở Hội nghị kết tập kinh điển lần
thứ hai là đánh dấu khởi đầu của sự phân hóa về tổ chức
Giáo hội. Giáo hội Tăng già sau Hội nghị, đă chính thức
phân thành hai bộ với những quan điểm đối lập về giới luật.
Thượng tọa bộ gồm thiểu số các vị trưởng lăo có khuynh hướng
bảo thủ, Đại chúng bộ gồm đa số Tỳ kheo trẻ tuổi có khuynh
hướng cấp tiến.
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai, có nơi gọi là
"Phệ Xá Li (Vesali) kết tập" hay "Thất bách kết tập".
2)- Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba:
a/- Lư do kết tập:
Phật giáo ngày càng được truyền bá rộng răi trên nhiều
vùng của lănh thổ Ấn Độ. Đặc biệt, dưới triều đại của vua A
Dục (Asoka), v́ vua là người mộ đạo nên Phật giáo được ưu
đăi rất lớn. Tăng, Ni trở nên đông đảo, trong đó có không ít
kẻ cơ hội trà trộn vào đoàn thể Tăng già và gây nên những
mối bất ḥa, do đó, Phật giáo trở nên hỗn loạn, khó phân
biệt chánh, tà. Đây cũng là lúc mà các bộ phái phân hóa đến
cực điểm. Trước thực trạng như vậy, vua A Dục đă phát tâm
khởi xướng và là người bảo trợ cho Hội nghị kết tập kinh
điển lần thứ ba trong lịch sử Phật giáo.
b/- Diễn tiến và kết quả:
Thành phần của Hội nghị lần này gồm có một ngàn vị Tăng
ưu tú được tuyển chọn từ khắp đất nước, dưới sự chủ tọa của
Tôn giả Mục Liên Đế Tu (Moggaliputta Tissa), tổ chức tại Lâm
Viên (Uyyàna), Hoa Thị thành (Pataliputta), thuộc nước Ma
Kiệt Đà (Maggadha), vào khoảng 218 năm sau Phật diệt độ, tức
khoảng năm 325 trước TL. Hội nghị diễn ra ṛng ră trong chín
tháng. Theo nhiều cứ liệu th́ phương thức kết tập cũng không
khác mấy lần trước.
Sau hội nghị, ngoài sự kết tập về kinh và luật tạng, ngài
Mục Liên Đế Tu đă soạn bộ Thuyết sự (Kathàvatnu) để
nêu lên những điểm khác biệt giữa Phật giáo và các học
thuyết ngoại đạo, nhằm phản bác giáo nghĩa của các ngoại đạo
đương thời, loại trừ những hỗn loạn trong Tăng già và củng
cố sự trong sáng vốn có của Phật pháp. Điểm nổi bật của Hội
nghị kết tập kinh điển lần thứ ba là lần đầu tiên, Tam
tạng Thánh điển được h́nh thành trọn vẹn.
3)- Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư:
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư diễn ra vào thời
vua Ca Nị Sắc Ka (Kanishka). Có nhiều sử liệu ghi nhận khác
nhau về niên đại, nhưng hợp lư nhất là vào khoảng bốn trăm
năm sau Phật diệt độ, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ phân
hóa bộ phái.
a/- Lư do kết tập:
Vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) là người thâm tín Phật giáo,
ham thích học hỏi giáo lư. Tương truyền, mỗi ngày nhà vua
đều có thỉnh một vị Tăng vào cung thuyết giảng. Tuy nhiên,
mỗi vị giảng sư đều có những kiến giải bất đồng về lời Phật
dạy nên nhà vua rất phân vân. Được sự gợi ư của Hiếp Tôn Giả
(Parsva), nhà vua đă khởi tâm bảo trợ cho Hội nghị kết tập
kinh điển lần thứ tư.
b/- Diễn tiến và kết quả:
Hội nghị đă tuyển chọn năm trăm học giả tinh thông Tam
tạng Thánh giáo từ khắp nơi trong nước, do ngài Thế Hữu
(Vasamitra) làm đệ nhất chủ tọa và ngài Hiếp Tôn Giả
(Parsva) làm đệ nhị chủ tọa. Hội nghị tổ chức tại tinh xá
Hoàn Lâm (Kundalavana Samgharama), nước Kamistra. Hội nghị
lần này đă bàn luận rất kỹ lưỡng nghĩa lư cũng như các vấn
đề khác của kinh và luật. Kết quả của Hội nghị kết tập,
ngoài kinh và luật tạng, những vấn đề thảo luận được biên
tập thành ba bộ luận (Ưu Bà Đề Xá, T́ Nại Da T́ Bà Sa và A
Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa) gồm chín trăm sáu mươi vạn lời (ba
mươi vạn bài tụng).
Vua Ca Nị Sắc Ca đă ra lệnh khắc toàn bộ kinh, luật, luận
sau khi đă biên tập lên trên những lá đồng, bảo quản nghiêm
ngặt tại một nơi cố định, ai có nhu cầu nghiên cứu th́ đến
đọc tại chỗ, tuyệt đối không cho mang ra ngoài. Tuy nhiên,
những bảo vật này cũng sớm bị thất lạc, nay chỉ c̣n phần
thích luận A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa (Abhidharma Mahavibhasa
sastra) mà ngài Huyền Trang đă dịch sang chữ Hán, gồm hai
trăm quyển.
II. Sự phân hóa của các bộ
phái
1)- Nguyên nhân của sự phân hóa:
Nguyên nhân đưa đến khởi đầu sự phân hóa các bộ phái gồm
nhiều yếu tố, nhưng có thể phân thành hai, đó là nguyên nhân
sâu xa và nguyên nhân trực tiếp.
a/- Nguyên nhân sâu xa:
Như chúng ta biết, Phật pháp là bất định pháp, tùy theo
căn cơ, khả năng nhận thức mà có những kiến giải bất đồng về
nó. Ở thời kỳ Đức Phật, những bất đồng bao giờ cũng được
Ngài hóa giải một cách êm thấm. Sau khi Ngài diệt độ, không
ai có thể thay thế được vai tṛ của Ngài, và mầm mống của sự
bất đồng, phân hóa dần dần lớn lên, trở nên gay gắt và đưa
tới sự phân chia bộ phái.
Thêm nữa, Phật giáo ngày càng được truyền bá rộng răi
trên khắp lănh thổ Ấn Độ nhưng lại chưa có một trung tâm cho
Tăng già - Giáo hội quy tụ, các vị Thánh tăng lần lượt qua
đời, hoàn cảnh xă hội có những thay đổi nhất định, từ những
cách biệt đó có thể đưa đến những quan điểm bất đồng, thậm
chí đối lập trong nhận thức về lời Phật dạy...
b/- Nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân chính):
Theo sử liệu của Phật giáo Nam truyền th́ nguyên nhân đưa
ra sự phân chia Giáo hội thành hai bộ là Thượng tọa bộ và
Đại chúng bộ là do bất đồng quan điểm về mười điều (phi
pháp), như đă đề cập ở Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ
hai, vào khoảng một trăm năm sau Phật diệt độ.
Các tài liệu Phật giáo Bắc truyền, như bộ luận Dị bộ tông
luận (3), được viết vào khoảng giữa thế kỷ thứ II sau TL,
th́ cho rằng nhân v́ bất đồng về năm sự mà ngài Đại Thiên
(Mahadeva) (Ngũ sự Đại Thiên) nêu ra nên Giáo hội chia thành
hai bộ là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Năm điều mà ngài
Đại Thiên đề xướng được tóm tắt trong bài kệ sau:
"Dư sở dụ, vô tri,
Do dự, tha linh nhập,
Đạo nhân thanh cố khởi,
Thị danh chân Phật giáo"
Nghĩa là:
(1) Bậc A La Hán tuy đă đoạn tận hết
phiền năo nhưng v́ c̣n nhục thân nên về sinh lư vẫn có hiện
tượng di trong mộng mị (Dư sở dụ).
(2) A La Hán đă đoạn tận vô minh nhưng không phải là
người biết hết mọi điều trong đời sống thế tục (vô tri).
(3) A La Hán tuy không c̣n do dự về con đường giải thoát,
nhưng vẫn c̣n những do dự về các điều vô hại, như làm thế
nào th́ hợp lư, thế nào th́ không (Do dự).
(4) Có vị đă chứng đắc A La Hán đôi khi phải nhờ Phật hay
bậc sư trưởng chỉ dẫn mới biết là ḿnh đă chứng ngộ (tha
linh nhập).
(5) A La Hán cũng có vị ngộ đạo nhờ vào âm thanh thuyết
pháp, trong đó có sự thuyết khổ và than khổ (Đạo nhân
thanh cố khởi).
Và ngài Đại Thiên cho như vậy là hoàn
toàn đúng với Phật pháp (Thị danh chân Phật giáo).
Thực tế năm điều mà ngài Đại Thiên nêu ra là nhằm để so
sánh quả vị Phật và A La Hán, Ngài quan niệm rằng chỉ có
Phật mới là hoàn hảo, c̣n A La Hán vẫn c̣n những khiếm
khuyết. Quan niệm này đă dấy lên những bất đồng. Nhóm tán
thành lập ra Đại chúng bộ, nhóm phản đối lập nên Thượng tọa
bộ.
Quan điểm Nam truyền th́ cho rằng khởi nguồn của sự phân
hóa Giáo hội là từ những bất đồng về "mười điều phi pháp",
như vậy là bất đồng về giới luật; trong lúc đó quan điểm Bắc
truyền th́ cho rằng, nguyên nhân là từ sự đối lập quan điểm
về "ngũ sự Đại Thiên", và đây là bất đồng về giáo nghĩa.
Nh́n chung, nguyên nhân trực tiếp của sự phân hóa Giáo hội,
ban đầu do bất đồng về việc ứng dụng giới luật là phù hợp
hơn; c̣n những bất đồng trong quan điểm về giáo lư, cụ thể
là qua "ngũ sự Đại Thiên" hẳn cũng đang ngấm ngầm, sau đó
mới bộc phát.
Sau này, khi Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ có sự phân hóa
thêm nhiều bộ con, lại xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau, cụ thể như thế nào sẽ đề cập ở phần tiếp theo.
2)- Diễn tiến của sự phân hóa và đặc điểm về giáo
nghĩa của các bộ phái:
Về niên đại diễn ra sự phân hóa các bộ phái, hiện nay có
hai căn cứ chính. Theo sử liệu Phật giáo Nam truyền th́ sự
phân hóa của cả hai bộ phái diễn ra từ sau Phật diệt độ
khoảng một trăm năm đến hơn hai trăm năm. Sử liệu Phật giáo
Bắc truyền th́ ghi nhận: Đại chúng bộ phân hóa các bộ phái
trong khoảng sau Phật diệt độ từ một trăm năm đến hai trăm
năm; niên đại phân hóa các bộ phái từ Thượng tọa bộ diễn ra
muộn hơn, trong khoảng sau Phật diệt độ từ hai trăm năm đến
ba trăm năm.
Về tổng số các bộ phái th́ có đến nhiều chứng cứ: có nơi
nói là có 24 bộ phái tất cả, có nơi ghi là chỉ có 18 bộ phái
hoặc 20 bộ phái, và tên gọi cũng có đôi chỗ bất đồng. Ở đây,
căn cứ vào Dị tông luận (4) thống nhất tổng số các bộ
phái là hai mươi (20).
a/- Sự phân hóa từ Đại chúng bộ:
Đại chúng bộ có sự phân hóa nội bộ diễn ra trước hết. Như
chúng ta đă biết, Đại chúng bộ có khuynh hướng cấp tiến, tư
tưởng tự do nên nội bộ luôn có mầm mống của sự phân hóa,
nhất là khi nảy sinh những vấn đề mới.
Trung tâm hoằng pháp của Đại chúng bộ đặt tại Ương Xà
Quật (Amgotara), thuộc vùng Trung Ấn. Đại chúng bộ có bốn
lần phân hóa, trước sau gồm chín bộ, kể cả bộ gốc. Theo
Ngao đầu tam luận huyền nghĩa quán chú của ngài Chân Đế
(5), th́ trong lúc Đại chúng bộ đang phổ biến tư tưởng của
các bộ kinh như Hoa Nghiêm, Niết bàn, Thắng Man, Duy Ma, Kim
Quang Minh, Bát Nhă..., ngay trong nội bộ có ư kiến ủng hộ
nhưng cũng có những phản ứng bất đồng, và kết quả là tại
đây, từ Đại chúng bộ đă phân hóa và h́nh thành thêm ba bộ
mới là Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê dận bộ.
* Nhất thuyết bộ (Ekavyavahàrikah) chủ trương rằng các
pháp thế gian và xuất thế gian đều là giả danh, không có
thực thể.
* Thuyết xuất thế bộ (Lokottaravàdinàh) th́ quan niệm
pháp thế gian là do vọng tưởng mà có, nhân vọng tưởng mà
sinh ra phiền năo, do phiền năo mà tạo nghiệp, do nghiệp mà
chiêu cảm quả báo. V́ từ vọng tưởng điên đảo mà có nên các
pháp thế gian đều là hư vọng và giả danh. Bộ phái này chỉ
thừa nhận các pháp xuất thế gian mới thật có, v́ nó được
khởi lên từ cảnh và trí chân thật.
* Kê dận bộ (Kankkutikàh) tập hợp những vị đề cao luận
tạng. Họ cho rằng kinh tạng và luật tạng là giáo lư do Đức
Phật phương tiện thuyết tùy căn cơ, chỉ có luận tạng mới là
giáo lư chân thật v́ nó giải thích rơ ư nghĩa của kinh và
luật.
Lần phân hóa thứ hai, từ Đại chúng bộ lại chia ra thành
lập một bộ nữa là Đa văn bộ (Bàhusrutiyàh), do ngài Tự Y B́
(Yajnavalkya) khởi xướng. Tương truyền, thời Đức Phật có đạo
sĩ hiệu Tự Y B́, sau khi xuất gia theo Phật, chứng quả A La
Hán, rồi vào núi Tuyết ẩn dật. Khoảng hai trăm năm sau Phật
diệt độ lại xuất hiện ở Ương Xà Quật - trung tâm của Đại
chúng bộ đương thời - nhân nghe bộ này hoằng truyền Tam tạng
với giáo nghĩa thô thiển nên Ngài đă thành lập Đa văn bộ để
tuyên dương nghĩa lư thâm sâu của Phật pháp. Đa văn bộ không
đồng t́nh với chủ trương của Đại chúng bộ cho rằng tất cả
lời Phật đều là chuyển pháp luân, mà quan niệm chỉ có ngũ ấm
(vô thường, khổ, không, vô ngă và Niết bàn) và Bát chánh đạo
mới là chuyển pháp luân; những lời dạy khác của Đức Phật chỉ
là thánh giáo, thuộc thế gian pháp.
Thuyết giả bộ (Prajnàptivadinàh) là kết quả của sự phân
hóa lần thứ tư từ Đại chúng bộ, do ngài Đại Ca Chiên Diên
(Mahakatyayana) ở nước Đại Lạt Đà (Maharattha) thành lập.
Thuyết giả bộ có lập trường là phân biệt thánh giáo gồm có
nhiều cấp độ: do Phật giả lập thuyết, chân thật thuyết, có ư
nghĩa tương đối, ư nghĩa tuyệt đối; các pháp thế gian và
xuất thế gian đều có một phần là giả thuyết.
Lần phân hóa thứ tư, từ Đại chúng bộ chia ra và thành lập
thêm ba bộ là Chế đa sơn bộ (Caityasailàh), Tây sơn trú bộ
(Aparasailàh) và Bắc sơn trú bộ (Uttarasailàh). Nguyên do
của sự phân hóa này là, khoảng cuối trăm năm thứ hai sau
Phật diệt độ, Đại chúng bộ được ưu đăi nên có nhiều ngoại
đạo trà trộn vào hàng ngũ Tăng già, trong đó có không ít
người nghiên cứu thông suốt Tam tạng kinh điển. Khi bộ này
tổ chức sàng lọc để loại thành phần này ra khỏi đoàn thể,
th́ có một nhóm khoảng ba trăm người tài trí do Tỳ kheo Đại
Thiên làm thủ lĩnh không chịu bị khai trừ, đă nhóm họp tại
núi Chế Đa, đem "ngũ sự Đại Thiên" ra tranh luận, do bất
đồng quan điểm nên lại chia thành ba bộ, gọi tên bộ phái
theo căn cứ như đă thấy ở trên.
Tóm lại, sự phân hóa của Đại chúng bộ có thể giản lược
theo sơ đồ sau:
|
Đại chúng bộ |
1. Nhất thuyết bộ |
Phân hóa lần I |
|
2. Thuyết xuất thế bộ |
|
3. Kê dận bộ |
|
4. Đa văn bộ |
Phân hóa lần II |
|
5. Thuyết giả bộ |
Phân hóa lần III |
|
6. Chế đa sơn bộ |
Phân hóa lần IV |
|