Những thử
thách của ngôi chùa Việt Nam tại hải ngoại
Tỳ Kheo Giác Đẳng
Ba thập niên qua có hơn 500 ngôi chùa do
người Việt xây cất ngoài Việt Nam. Có những
ngôi chùa đơn sơ thậm chí chỉ là một nơi
mướn tạm. Hiện phần lớn đều là cơ sở đáng kể
với chương trình sinh hoạt thường xuyên.
Nhiều ngôi chùa mang tầm cở qui mô trên cả
hai phương diện kiến trúc cũng như ngân quỹ
điều hành như chùa Việt Nam Houston Hoa Kỳ,
chùa Trúc Lâm Edmonton Canada, chùa Viên
Giác Hannover Đức Quốc, chùa Phổ Quang Perth
Úc Đại Lợi là vài thí dụ điển hình. Nếu để
vui mừng về sự phát triển Phật giáo Việt Nam
ở xứ người thì có lắm điều để nói, nhưng
không phải vì thế mà không có những thử
thách mà cho tới nay vẫn là nan đề của Phật
giáo Việt nam ở hải ngoại.
Sinh hoạt truyền thống không thu hút được
giới trẻ.
Một ngôi chùa "thịnh" theo kiểu Việt Nam là
nhiều đám cúng, nhà bếp bận rộn, nhiều lễ
hội thường xuyên tại chùa. Những thứ đó
không có sức thuyết phục để người trẻ đi
chùa. Chư Tăng Ni thường bận rộn với những
Phật sự khác và "giao khoán" việc hướng dẫn
tu học thanh thiếu niên cho các đơn vị Gia
Đình Phật tử. Công tâm mà nói thì cho tới
nay Gia Đình Phật Tử vẫn là cơ cấu giáo dục
thế hệ mai hậu của Phật giáo Việt Nam. Chính
điều nầy cho thấy những vấn đề sâu xa hơn.
Tăng ni và phụ huynh hầu như "rất hạn chế"
trong việc hướng dẫn giáo lý cho con em.
Những lủng củng giữa tổ chức Gia Đình Phật
Tử và chùa chiền địa phương mỗi lúc một
nhiều là một sự trạng đáng buồn khác.
Sự điều hành vẫn thiếu qui củ rõ rệt
Khác với các quốc gia Phật giáo khác, đạo
Phật Việt Nam không đồng nhất về cách tổ
chức chùa chiền. Hai hình thức quen thuộc
nhất là do một hội đồng trị sự hay do vị trụ
trì chủ động tất cả. Cách nào cũng có những
điểm hay và những vấn đề phức tạp. Việc quản
trị và báo cáo tài chánh ít khi được tốt
theo luật pháp địa phương. Thường thì có cái
gì đó theo kiểu "rất Việt Nam". Lúc có tranh
chấp kiện tụng mới chấn chỉnh thường là quá
trễ. Những đoàn thể người Việt nói chung
thường thì dân chủ không thành dân chủ mà
tập quyền không giống tập quyền. Không giống
tập quyền bởi lẽ cá nhân vị lãnh đạo không
đủ mạnh để lèo lái tất cả như các ngôi chùa
ở các nước Phật giáo Nam tông hầu hết quyết
định nằm ở vị trụ trì. Không giống dân chủ
vì những thành viên trong một tổ chức cũng
xa lạ với cách làm việc thông qua tổ chức rõ
rệt.
Sinh hoạt hoằng pháp vẫn giới hạn trong cộng
đồng người Việt
Hoằng pháp là một khả năng thường là "tự
phát" của Tăng Ni. Chỉ hoằng pháp trong bối
cảnh bình thường đã có nhiều điều phải trăn
trở. Hướng dẫn tu học cho người Phật tử Việt
Nam ở hải ngoại đòi hỏi phương cách khác
hơn. Còn nói đến việc đem đạo mầu truyền đạt
cho người khác màu da, ngôn ngữ, văn hoá là
một nỗ lực vượt mức bình thường. Một vài tu
sĩ Phật giáo Việt Nam đã có thành tựu lớn
trong lãnh vực nầy nhưng nói chung vẫn còn
quá ít ỏi so với sự hiện diện rộng lớn của
cộng đồng Việt Nam. Người Tích Lan, Tây
Tạng, Miến Điện, Đại Hàn .. tương đối hơn
chúng ta về mặt nầy mặc dù số lực chùa chiền
và Tăng ni Việt Nam nhiều hơn. Ngôn ngữ là
một trở ngại nhưng xem ra không bằng sự
thiếu vắng "bản sắc đặc thù" của Đạo Phật
Việt để thu hút những sắc dân khác.
Những chi phối của thời cuộc
Người Phật tử Việt Nam thường cố tránh né
những "vấn đề thế tục" trong sinh hoạt chùa
chiền. Thật tình thì cho dù hoàn toàn muốn
như thế cũng khó tránh được những chi phối
trực tiếp hay gián tiếp. Một thí dụ là việc
chào cờ trong các buổi lễ ở chùa. Ngày xưa
tại Việt Nam không có việc đó trong chùa.
Bây giờ tại hải ngoại đôi lúc là điều tranh
luận gay gắt. Đa số cộng đồng người Việt hải
ngoại là cộng đồng tị nạn. Ngay chữ tị nạn
đã là thái độ mang tính chính trị. Không
phải chỉ tị nạn vì những đe doạ nhất thời mà
còn có một quá khứ để khẳng định mình là ai?
tại sao có mặt ở xứ người?. Việt Nam ngày
nay vẫn là một nước cộng sản. Dù sự trở về
thăm viếng của người Việt hải ngoại thế nào
thì vẫn có sự khác biệt giữa một quê hương
tự do và chủ nghĩa độc đảng với nhiều máu lệ
khó quên được. Nếu ngôi chùa nằm trong lòng
dân tộc thì phải phản ánh được thực trạng và
những thao thức của dân tộc. Những diễn biến
chung quanh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất vẫn là nan đề bách thúc cho những
ai ưu tư về quê hương và đạo pháp.
Quan hệ phức tạp giữa Việt nam và hải ngoại
Hải ngoại có cơ sở, tài chánh nhưng thiếu
Tăng Ni. Trong nước có thể cung ứng giải
quyết nhu cầu nầy. Vấn đề là làm sao để tìm
người khả tín. Một trở ngại lớn là sự không
nắm vững ai là cán bộ tôn giáo và ai không
phải. Những phức tạp liên quan đến tổ chức
giáo hội tại Việt Nam tự nhiên tạo ra thế "bên
nầy hoặc bên kia" của chùa chiền, tăng ni và
các tổ chức Phật giáo.Thêm vào đó là làm thế
nào san bằng những bất đồng trong nhu cầu,
quan niệm, lối sống giữa một người mới từ
Việt Nam sang và những người đã sống ở xứ
người lâu năm. Người trong nước ra hải
ngoại bây giờ hoàn toàn khác với những người
tị nạn trong đợt đầu đến định cư tại quê
người. Kinh tế trong nước đã khá hơn. Nhu
cầu cá nhân nhiều hơn. Và nói về sự làm việc
thì phần lớn người trong nước "nhàn hơn".
Tăng Ni mới ra nước ngoài trong thời gian
sau nầy muốn mau chóng có cơ ngơi hơn là lớp
trước vì vậy tạo nên từ khó khăn nầy tới khó
khăn khác.
Vấn đề thừa kế
Đa số các ngôi chùa hải ngoại không có trù
liệu về tương lai đối với câu hỏi ai sẽ kế
vị trụ trì hiện tại. Một phần vì văn hoá của
chúng ta, một phần vì có đặt ra câu hỏi cũng
không có câu trả lời xác thực. Luật pháp
ngày nay đòi hỏi pháp lý rõ ràng kể cả di
chúc của người tiền nhiệm điều mà cộng đồng
Phật giáo Việt Nam thường không chuẩn bị.
Rắc rối hơn nữa sự thịnh suy của nhiều ngôi
chùa thường xoay chung quanh "hào quang cá
nhân" một vị Tăng Ni. Khi vị nầy nằm xuống,
như nhiều ngôi chùa gặp phải, là kiện tụng
tranh chấp hoặc trống vắng một hình ảnh khả
dĩ thay thế. Ngay cả nhiều cơ sở Phật giáo
lập hội bất vụ lợi nhưng sự thủ đắc cơ sở và
quyết định tương lai ngôi chùa thường là
mang tính cá nhân. Quan trọng hơn nữa là
những công trình hoằng pháp lợi sinh, thường
thì kết thúc theo sự ra đi của người tiền
nhiệm. Ít có những bậc tôn trưởng hoằng pháp
lâu năm xứ người có đông đảo hậu duệ vây
quanh để khi nằm xuống có thể an tâm thấy
công trình khai sơn của mình có người tiếp
nối.
Chúng ta làm được gì?
Bức tranh Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại
là một tập hợp của nhiều sự dị biệt. Không
thể có một đường hướng hay kế sách ứng dụng
chung. Chính vì thế bất cứ điều gì được nói
đến đều chỉ là thao thức. Tuy vậy chúng ta
phải nhận rằng dù thế nào thì cũng có thể
làm tốt hơn nếu chúng ta quan tâm và đầu tư.
Sự quan hệ rộng rãi giúp các cơ sở địa
phương nhìn mọi vấn đề thoáng hơn. Chấp nhập
thay đổi để cải thiện sẽ giảm bớt tính bảo
thủ thiếu linh động. Minh định rõ chúng ta
là ai sẽ dễ dàng để định hướng hơn là thái
độ lưng chừng. Dù muốn hay không thì nên
nhìn vào tổ chức giáo hội. Một giáo hội độc
lập với thế quyền, qui tụ được những bậc
chơn tăng thạc đức và có quá trình dấn thân
vận động cho dân tộc đạo pháp sẽ là một yếu
tố quan trọng giúp chúng ta định hướng và
giải quyết nhiều vấn đề.
Phật Pháp dạy về chữ nhân duyên. Túc nghiệp
là nhân duyên mà hiện trí cũng là yếu tố chi
phối. Tất nhiên sự đưa đẩy của cuộc đời vốn
trăm mối nan nghì nhưng ý thức và nỗ lực của
chúng ta cũng không kém phần quan trọng. Sự
có mặt của Phật giáo Việt Nam tại quê người
là một khúc quanh lịch sử của Đạo Phật Việt.
Dù muốn hay không thì điều nầy sẽ là một
trong những tác động lớn đối với tương lai
Phật giáo chúng ta. Đạo Phật đang có những
lan rộng tích cực tại nhiều châu lục. Phật
giáo Việt Nam có thể học hỏi và đóng góp
nhiều từ vị thế của mình. Bất cứ nỗ lực lớn
nhỏ nào cũng có lợi lạc. Đó là niềm hy vọng
lớn của tất cả chúng ta.
Toại Khanh
TUỔI NHIỀU THÊM TỦI
Sống mươi năm đã thấy già
trầm luân chừng ấy… vẫn là trẻ con
đi mươi hôm dép đã mòn
trầm luân chừng ấy… sao còn ruỗi giong
sống mươi năm đã lưng còng
trầm luân chừng ấy…sang sông cũng vừa
chỉ hiềm giải đãi kiếp xưa
nên giờ tiếp tục vào chùa gõ chuông
tử sinh là những dặm buồn
chuyện mình chửa xét…dám hờn tha nhân
ngán rồi những oán cùng ân
kiếp mai xin được một lần phủi tay
sau lưng muôn dặm đường dài
tiền đồ nhớ vội vết hài…ta ơi !
|
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT