|
Tâm lư học là
khoa học nghiên cứu về tâm lư con người. Tâm lư học
thường đi đôi với giáo dục học, gọi chung là tâm lư
giáo dục. Về góc độ lịch sử, tâm lư học ra đời muộn
hơn so với các ngành khoa học khác. Nhưng cũng như
các ngành khoa học, tâm lư học bắt nguồn từ triết
học và từ đó đă sớm đi vào giải quyết các vấn đề
quan trọng, then chốt trong đời sống con người. Ngày
nay tâm lư học trở thành một trong những ngành học
quan trọng nhất về con người, nó liên quan mật thiết
đến các lĩnh vực văn hóa và văn minh của nhân loại.
V́ rằng, văn hóa và văn minh là những ǵ được làm ra
bởi con người; nó là sản phẩm của con người, và do
đó, không thể tách rời con người ra khỏi các lĩnh
vực văn hóa và văn minh trong hệ thống tương quan,
mang tính chất tùy thuộc lẫn nhau (Y tha khởi).
Tuy nhiên,
trước viễn cảnh của thực tại, các nền văn minh nhân
loại hiện nay đang rơi vào khủng hoảng - sự mất cân
bằng một cách trầm trọng giữa đời sống vật chất và
tinh thần. Các nước văn minh, tiên tiến th́ nỗ lực
tập trung vào các ngành khoa học công nghiệp và siêu
công nghiệp, như công nghệ tin học, công nghệ không
gian...; các nước đang phát triển và kém phát triển
th́ nỗ lực đi vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Nói chung, cả hai đều đi vào mục tiêu phát triển
kinh tế ở tầm vĩ mô. Tuy nhiên, điều nghịch lư, mâu
thuẫn vẫn diễn ra trên toàn thế giới, đó là: đói
nghèo, bệnh tật, chiến tranh, và nạn nhân măn v.v...
Trong khi,
chỉ số đánh giá mức phát triển của mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc được xác định trên tỷ lệ tăng hoặc giảm của
"GDP" (General Domestic Product - Tổng sản lượng
hàng hóa nội địa) và "GNP" (Gross National Product -
Tổng sản lượng quốc gia); th́ ngược lại, chỉ số
"stress" của con người ngày càng tăng. Đối với các
nước công nghệ (1) siêu cường của thế giới th́ căn
bệnh trầm kha nhất không phải là kinh tế, mà chính
là "stress" - một sự khủng hoảng tâm lư thời đại.
Ngược lại, các nước kém phát triển và đang phát
triển th́ căn bệnh khủng hoảng đó bao gồm cả hai:
khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tâm lư. Với một
đường hướng phát triển như thế đă đánh mất sự quân
b́nh của đời sống con người. Nếu sự phát triển chỉ
dựa vào lợi tức thu nhập (income) kinh tế và tư bản
(tiền tệ), nghĩa là chỉ dựa vào khát vọng làm giàu
và tôn vinh sự bảo thủ độc quyền (exclusive) - nói
theo ngôn ngữ của Phật là tham ái (tanhà) và chấp
thủ (upadàna) - th́ ắt hẳn sẽ đưa đến khổ đau, bất
hạnh và tuyệt vọng.
V́ thế,
trước viễn cảnh của những khủng hoảng trầm trọng,
nhất là khủng hoảng tâm lư của con người như là các
hội chứng của stress thời đại, các giá trị trong sự
sống của con người cần thiết được xét lại, và cần
được soi sáng bởi những lời dạy của Đức Phật.
1- Vấn
đề khủng hoảng tâm lư
Như vừa
tŕnh bày, trong xu thế công nghiệp hóa và siêu công
nghiệp hóa của thế giới hiện nay, con người thường
xuyên rơi vào các khủng hoảng theo hai chiều hướng,
hoặc là bị loại trừ bởi các thiết bị hiện đại, hoặc
là phải lao động quá mức có thể. Sự kiện đó xảy ra
trên qui luật cạnh tranh mà các nhà kinh tế thời đại
cho rằng đó là cạnh tranh để sinh tồn và cạnh tranh
để phát triển (2). Nhưng thực chất là cạnh tranh để
đi đến chiến thắng độc quyền, và có khi dẫn đến sự
triệt hạ lẫn nhau giữa tư bản tư nhân hoặc tư bản
độc quyền nhà nước (3); c̣n hậu quả th́ đưa đến
không những ở mức độ cộng đồng mà c̣n ở chính mỗi
con người.
Trong khi
đó, Đức Phật dạy: "Dầu tại nơi chiến trường,
thắng hàng ngàn quân địch, tự thắng ḿnh tốt hơn, đó
là sự chiến thắng tối thượng". (Php.103) Hoặc là
"Dầu Thiên thần, Càn thát bà, Ma Vương hay Phạm
Thiên, không ai chiến thắng nổi người đă tự chiến
thắng và tự chế phục". (Php. 105)
Sự chiến
thắng như thế chính là nền tảng để từ đó tái lập sự
quân b́nh cho đời sống tâm lư, và xa hơn là sự giải
quyết các khủng hoảng của con người chính nó, với tư
cách là con người cá biệt (individual) và con người
của cộng đồng, với tư cách là thành viên của xă hội
(member of society).
2- Vấn
đề triết lư nhân sinh
Nói đến tâm
lư con người cũng là nói đến tâm lư xă hội. Các
ngành tâm lư học và xă hội học, đạo đức học, luận lư
học... đều tập chú vào con người và các diễn biến
tâm lư của con người. Và mục tiêu của các ngành học
đó là giúp con người kiến tạo một đời sống hạnh
phúc, đồng thời giúp phát triển một cách toàn diện
các tánh hạnh (behaviour), các đức tính (virtue) của
con người. Tuy nhiên, ngay từ đầu, triết học tâm lư
đă vướng phải một sai lầm lớn, đó là xây dựng một hệ
thống nhận thức luận (epistemology), giá trị luận
(axiology) và bản thể luận (ontology) trên căn bản
của một ngă thể (ego), một bản thể (essence). Và do
đó, tất yếu phải đưa đến những quan niệm, phương
pháp v.v... nhằm duy tŕ và bảo vệ cái ngă thể (4)
bất thực đó như cái bản năng (Id), cái siêu ngă
(superego) trong tâm lư học mà Sigmund Freud đề
xuất. V́ thế, khi con người đối diện với sự thật của
định lư vô thường, sinh ra khổ đau và rơi vào khủng
hoảng. Khủng hoảng tâm lư là căn bệnh miên trường
đối với con người. Do đó, cần phải xét lại vấn đề
tâm lư giáo dục của thời đại.
Đức Phật
dạy rằng: "Các hành vô thường", "các pháp là vô ngă"
(5). Điều đó là một tia nắng rực rỡ, khả dĩ soi sáng
và giải quyết các vấn đề hiện đại của con người.
3- Vấn
đề cá nhân và xă hội
Cá nhân và
xă hội là hai mặt của một hiện hữu. Cá nhân không
thể thoát ly ngoài xă hội mà có, và ngược lại, xă
hội không thể thành tựu nếu không có mỗi con người
cá nhân. Sự tách biệt giữa cá nhân và xă hội là điều
không thể và lầm lẫn. Do đó, các hệ thống triết học
nếu tự qui giảm ḿnh về hoặc là duy tâm, hoặc là duy
vật v.v... đều rơi vào phiến diện, và tha hóa. Điều
này được Thích Chơn Thiện, trong luận án Tiến sĩ về
"Lư thuyết nhân tính" (6), đánh giá và xếp loại như
sau:
a) "Nhóm tư
tưởng ngôi thứ ba: Các tư tưởng cho rằng có nguyên
nhân đầu tiên của vũ trụ gọi là nhóm tư tưởng ngôi
thứ ba - người mà ta nói về. Do v́ vai tṛ làm chủ
cuộc sống của con người bị đánh mất trong nhóm tư
tưởng này, nên tư tưởng của nhóm này bị tha hóa
(alienation)".
b) "Nhóm tư
tưởng ngôi thứ hai: Các tư tưởng cho rằng sự thật
chỉ hiện hữu trong thiên nhiên hay hiện tượng giới
gọi là nhóm tư tưởng ngôi thứ hai - người mà ta nói
với. Con người cũng bị đánh mất trong nhóm tư tưởng
này, nên nhóm này được gọi là tha hóa".
c) "Nhóm tư
tưởng ngôi thứ nhất: Các tư tưởng cho rằng con người
làm chủ cuộc đời ḿnh, hay cuộc sống là v́ hạnh phúc
của con người ... - người mà ta đang nói ...."
Và tác giả
cho rằng, Phật giáo, hiện sinh thuyết, và hiện tượng
luận ... thuộc về nhóm tư tưởng ngôi thứ nhất.
Tuy nhiên,
sự sắp xếp trên của tác giả chỉ nhằm phân loại các
nhóm tư tưởng một cách bao quát (universal). Sự thật
th́ giữa Phật giáo và hiện sinh thuyết chẳng hạn,
cách giải quyết vấn đề hoàn toàn khác nhau (7) ngay
từ nền tảng của mỗi học thuyết, như một đằng nói Vô
ngă (Non-essence), một đằng khác nói Hữu ngă
(Essence).
Ở đây, qua
giáo lư Duyên sinh (Paticcasamupàda), Đức Phật đă
soi sáng sự thật của con người và vũ trụ vạn hữu
này. Sự thật đó chính là Duyên sinh tính, Vô ngă
tính. (Vấn đề sẽ được bàn rơ ở các chương sau).
4- Vấn
đề đạo đức và luân lư
Đạo đức và
luân lư đều là các nội dung được bàn đến trong tâm
lư học, mặc dầu giữa đạo đức học và tâm lư học th́
khác nhau trên cơ sở đối tượng và quan điểm nghiên
cứu (8); nhưng cả hai đều thuộc ngành khoa học nhân
văn, nên đều hướng đến đối tượng là đời sống tinh
thần hay ư thức của con người.
Tuy nhiên,
do tính chất công ước (conventional) xă hội của đạo
đức, luân lư, nghĩa là nó luôn luôn được giới hạn
bởi tính chất qui ước chung của toàn xă hội, do đó,
nó chỉ phản ánh trên bề mặt của các hiện tượng
(thiện, ác) xă hội, mà chưa thực sự đi vào bản chất
của mỗi con người. V́ thế, một kẻ tàn ác, xấu xa, y
vẫn có thể đội lốt lương thiện - công ước để trung
hoành ngoài xă hội. Đây là nguyên nhân đưa đến nạn
tham nhũng, giết người giấu tay v.v... hay c̣n gọi
là khủng hoảng đạo đức.
Đức Phật,
qua giáo thuyết nhân quả, nghiệp báo (karma), đă xác
định rơ: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ
thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc
..."(9)
Cái thai
tạng (womb) hay tâm thức đó của mỗi con người là nền
tảng của đạo đức và luân lư Phật giáo. Và tại đó, là
cơ sở duy nhất có thể giải quyết các khủng hoảng và
sự đảo lộn trật tự của đạo đức, luân lư thời đại.
(Vấn đề sẽ được bàn cụ thể ở các chương sau).
5- Vấn
đề tương quan giữa con người và môi trường sinh thái
Vấn đề môi
trường sinh thái hiện đang là khủng hoảng bức thiết
nhất mà con người phải đối diện. Môi trường được xem
như là dưỡng khí cần thiết, mà qua đó, con người hấp
thụ để sinh sống và phát triển. Mối liên hệ giữa con
người và môi trường là mối quan hệ bất khả phân ly.
Do đó, sự hủy diệt môi trường cũng là sự huỷ diệt
con người. Từ đó các vấn đề như sinh thái học
(ecology), hệ sinh thái (ecosystem), môi trường sinh
thái (ecological environment), cấu trúc sinh thái
(ecological structure), sinh thái nhân văn (human
ecology), sinh thái tự nhiên (natural ecology) và
diệt sinh thái (ecocide) v.v... được xem là các vấn
đề nóng bỏng nhất đang ảnh hưởng đến đời sống con
người. Vấn đề lại càng trớ trêu hơn, khi chính các
nước tiên tiến lại là nơi dẫn đầu về phá hoại môi
trường sinh thái (10) thông qua sự thải chất bả từ
các nhà máy công nghiệp nặng, nhẹ; sự ṛ rỉ hay bùng
vỡ các ḷ phản ứng hạt nhân, sự đắm ch́m của các tàu
chuyên chở dầu khí, sự đốt phá những quặng dầu trong
chiến tranh v.v... tất cả đều đưa đến hậu quả diệt
sinh thái một cách trầm trọng. Những vấn đề trên,
suy cho cùng đều bắt nguồn từ ḷng vị kỷ, và dục
vọng của con người. Và hiệu ứng nhà kính (dioxide de
carbone) (11) thực ra cũng chính là hiệu ứng dục
vọng của con người.
Sự kiện này
cần thiết được soi sáng bởi giáo lư Duyên khởi - Vô
ngă; thông qua giáo lư ấy, con người sẽ hiểu được
rằng các loài hữu t́nh (sentient beings) và vô t́nh
(non sentient beings) đều là chúng sinh, cần phải
tựa vào nhau mà sinh tồn. Và sự hủy diệt sinh thái
của các loài vô t́nh đồng thời cũng là sự hủy diệt
sinh thái của con người và muôn loài sinh thú.
6- Vấn
đề chiến tranh và ḥa b́nh
Chiến tranh
và ḥa b́nh là diễn biến hai mặt của cùng một ḍng
tâm thức. Khi các dục vọng mâu thuẫn, xung đột nội
tại dâng lên đỉnh cao, lập tức nó trở thành chiến
tranh; và khi tâm thức ấy buông xả mọi xung đột, mọi
khát vọng.... th́ nó tái lập ḥa b́nh. Đó chính là ư
nghĩa của: "Tâm b́nh thế giới b́nh" trong kinh tạng
Phật giáo. Các cuộc chiến tranh nóng và lạnh trên
thế giới đều là diễn biến của tâm thức xung đột,
khát vọng và bất an.
Đức Phật
dạy (12): "Lại nữa, này các Tỷ kheo, do dục vọng làm
nhân, do dục vọng làm duyên, do dục vọng làm nguyên
nhân, do chính dục vọng làm nhân, vua tranh đoạt với
vua, Sát đế lỵ tranh đoạt với Sát đế lỵ, Bà la môn
tranh đoạt với Bà la môn, gia chủ tranh đoạt với gia
chủ; mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ;
cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha; anh
em tranh đoạt với anh em; anh tranh đoạt với chị,
chị tranh đoạt với anh; bạn bè tranh đoạt với bạn
bè. Khi chúng dấn ḿnh vào tranh chấp, tranh luận,
tranh đoạt, chúng tấn công nhau bằng tay, bằng gạch
đá, bằng gậy gộc, bằng đao kiếm. Ở đây, chúng đi đến
tử vong, đi đến khổ đau gần như tử vong".
"Lại nữa,
này các Tỷ kheo, do dục vọng làm nhân, do dục vọng
làm duyên, do dục vọng làm nguyên nhân, do chính dục
vọng làm nhân, chúng cầm mâu và thuẫn, chúng đeo
cung và tên, chúng dàn trận hai mặt và tên được nhắm
bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung
chém nhau, chúng bắn, đâm nhau bằng tên, chúng quăng,
đâm nhau bằng đao, chúng chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở
đây, chúng đi đến tử vong, đi đến khổ đau gần như tử
vong".
Và Ngài
cũng dạy rằng: "Nếu tâm thức bị dao động bởi bằng,
thắng hay thua, th́ đấu tranh khởi lên, khi cả ba
không dao động, th́ đấu tranh không sinh khởi".(13)
Hoặc là: "Thắng
trận sinh thù oán, bại trận nếm khổ đau, ai từ bỏ
thắng và bại, tịch tịnh hưởng an lạc".(14)
7- Vấn
đề tâm lư giáo dục
Như đă đề
cập, tâm lư giáo dục là một trong những ngành học
quan trọng nhất về con người, nhằm khảo cứu, quan
sát, kiểm chứng các sự kiện tâm lư để xác định những
định luật tâm lư giúp con người giải quyết các vấn
đề nội tại của ḿnh, nhằm đưa đến cuộc sống hạnh
phúc. Do đó, ngành tâm lư giáo dục có chức năng xây
dựng nội dung giáo dục và phương pháp hướng dẫn thực
hiện nội dung giáo dục đó. Các nhà tâm lư giáo dục
nổi tiếng trong thời hiện đại như Sigmund Freud,
Carl Jung, Erich Fromn, Adler, Maslow, Allport, Carl
Rogers, John Dewey, Dalton, George H. Mead,
Winnetka, Martimière, Montersori... đă nỗ lực sáng
tạo, đề xuất các hệ thống tâm lư học, tâm lư giáo
dục và tâm lư xă hội... Sự nỗ lực đó đă mở ra một
đường hướng giáo dục cần thiết, hữu ích cho con
người. Tuy nhiên, các lư thuyết ấy vẫn bị giới hạn ở
quan điểm cho rằng con người xuất hiện cùng với một
ngă tính (self) vĩnh hằng; hoặc khi chạm phải những
vấn đề nan giải thường bị rơi vào "bất khả tri"
luận. (Điều này sẽ được tŕnh bày ở phần sau).
Qua lăng
kính Duyên khởi, Vô thường, Vô ngă, Phật giáo đă đề
cập đến khá rơ về các vấn đề tâm lư giáo dục như một
ngành khoa học nhân văn và xă hội trong các kinh
Nikayà và kinh tạng Đại thừa. Nhất là đối với các
kinh như Lăng Già (Lankàvatàra), kinh Giải Thâm Mật
(Sandhi-nirmona), kinh Bát Nhă (Prăjnaparamità),
kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka hay Gandavyùha). Đặc
biệt trong triết học Duy thức (Vinnànàvàda), ít nhất
là từ hơn 15 thế kỷ qua, đă có các hệ thống tâm lư
học đặc sắc như Thắng pháp luận
(Abhidhammatthasangaha) của Thượng tọa bộ, A tỳ đạt
ma câu xá luận (Abhidhamma-kosa-sastra) của Nhất
thiết hữu bộ, và Duy thức của Đại thừa(15).
Các bộ luận
trên đều đi vào phân tích tâm lư qua các hoạt động
của nó và chia thành ba loại tâm cơ bản: tâm thiện,
tâm bất thiện, và tâm phi thiện - phi bất thiện hay
c̣n gọi là lộ tŕnh tâm. Thông qua các loại tâm
trên, con đường giáo dục tâm lư được thể hiện ở sự
tập chú thiền định đi vào thanh lọc và làm cho tâm
trở nên thanh tịnh, thoát ly mọi khổ đau của con
người.
Tuy nhiên,
trong tác phẩm này, tác giả chỉ tập trung vào nội
dung tâm lư học trên cơ sở của triết học Duy thức
trong Đại thừa Phật giáo, đặc biệt là y cứ trên tư
tưởng của Luận sư Asanga (Vô Trước) và
Vasubandhu(Thế Thân). Đồng thời, thông qua tác phẩm
Duy Thức tam thập tụng (Treatise in thirty
verses on Mere - Consciousness) của Vasubandhu, tác
giả sẽ tŕnh bày về hệ thống Tâm lư học Phật giáo
như đă được giới thiệu trong nội dung của tác phẩm
này.
Tác giả tin
tưởng ở sự tŕnh bày cụ thể, rơ ràng và hệ thống của
Luận sư Vasubandhu, trong Duy Thức tam thập tụng
sẽ giúp độc giả tiến sâu hơn vào nguồn mạch của đời
sống tâm lư của chính ḿnh, và từ đó, chọn lựa cho
bản thân một giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết
những khủng hoảng và kiến lập đời sống hạnh phúc,
giải thoát ngay tại cuộc đời này.
* * *
PHẠM VI ĐỀ TÀI
Có nhiều
lĩnh vực liên quan đến đề tài; tuy nhiên, ở đây tác
phẩm được tập trung vào các chủ đề chính như sau:
- Sự h́nh
thành Tâm lư học Phật giáo.
- Đại cương
Tâm lư học Phật giáo.
- Nội dung
Tâm lư học Phật giáo qua Duy thức tam thập tụng.
Bên cạnh đó,
tác giả cũng tŕnh bày khái lược về lịch sử tâm lư
học phương Tây và các vấn đề tâm lư học ở phần đầu
của tác phẩm, nhằm giúp độc giả so sánh đối chiếu
giữa tâm lư học phương Tây và Phật giáo. Đồng thời,
ở phần kết (Phần IV. Chương 1 & 2 và phần V), tác
giả, thông qua hệ thống tâm lư giáo dục Phật giáo,
đề bạt và giới thiệu những phương pháp thực tiễn có
thể giúp giải quyết các khủng hoảng tâm lư của con
người hiện tại và tái lập đời sống hạnh phúc thật sự
như đă được giới thiệu rơ trong các hệ thống triết
học Phật giáo, nổi bật nhất ở đây là các thể tài
thuộc triết học Duy thức.
Về hệ thống
triết học Duy thức, nó là một hệ thống thuộc về Luận
tạng (Abhidhamma - pitaka) trong Tam tạng
(Tripitaka) thánh điển Phật giáo, bao gồm: Kinh tạng
(Sutta - pitaka), Luật tạng (Vinaya-pitaka) và Luận
tạng (Abhidhamma-pitaka). Tam tạng thánh điển lại
được chia thành hai hệ thống theo Nam phương và Bắc
phương Phật giáo, và có những hệ thống giáo nghĩa
riêng biệt gọi là Nam tạng và Bắc tạng. Ở đây, triết
học Duy thức thuộc về giáo nghĩa của Bắc tạng
(Mahayàna-Phật giáo). (Xem phần: Sự h́nh thành của
Tâm lư học Phật giáo - Phần II, Chương 1).
Công việc
nghiên cứu này, tác giả chỉ tập chú vào phần Luận
tạng của Phật giáo Mahayana, qua đó, xác định sự
thật về tâm lư và các sự kiện, diễn biến của tâm lư
con người; đồng thời tŕnh bày con đường giáo dục
tâm lư theo quan điểm của Phật giáo nói chung và
Luận tạng nói riêng. Tác giả hoàn toàn tin tưởng ở
sự giải kiến (deconstruction) của các vị Luận sư
Phật giáo(16), những người đă thăng chứng tuệ giác
và kế thừa mạng mạch Phật giáo suốt hơn 15 thế kỷ
qua.
I.2. CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TÂM LƯ HỌC
* * *
Trước
khi đi vào nghiên cứu tâm lư học, cần thiết lược qua
quá tŕnh h́nh thành và sự phát triển của nó, đặc
biệt là hệ thống tâm lư học phương Tây.
SỰ H̀NH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LƯ HỌC
Tâm lư học
(Psychology) là một ngành khoa học nghiên cứu về con
người, vị trí của nó đứng ở giữa khoa học tự nhiên
và khoa học xă hội. Tâm lư học khảo sát, t́m hiểu
các động lực phát sinh và sự vận hành của các hiện
tượng tâm lư. Cũng như các ngành khoa học khác, tâm
lư học bắt nguồn từ triết học, và về sau trải qua
hàng ngàn năm tâm lư học mới chính thức trở thành
một ngành học chuyên môn.
Khởi đầu,
vào thời cổ đại, tâm lư học gắn liền với lịch sử
triết học và được thanh lọc qua bởi nhiều quan điểm
khác nhau. Plato (428-318 B.C.) đại diện cho ḍng
triết học Duy tâm, cho rằng hiện tượng của cả tâm lư
và vật lư đều xuất sinh từ ư niệm tuyệt đối hay c̣n
gọi là "Eros" (Tâm), đó là niềm hứng khởi vô tận từ
triết học. Ngược lại Democrite (460-320 B.C.) đại
diện cho ḍng triết học Duy vật, đi t́m cái nguyên
động lực đầu tiên từ trong thế giới tự nhiên của vũ
trụ vạn hữu như nước, lửa, khí..., và cho rằng diễn
biến của tâm lư con người hoàn toàn tùy thuộc vào
các qui luật về sự vận hành của thế giới tự nhiên.
Sau đó đến Aristote (384-322 B.C.), một môn đệ sáng
giá nhất của Plato đă cho ra đời một tác phẩm tâm lư
học đầu tiên dưới nhan đề: "Bàn về linh hồn".
Trong tác phẩm này, ông đă đề cập đến một vấn đề rất
quan trọng về tâm lư, đó là mối liên hệ mật thiết
giữa tâm lư và vật lư, hay giữa tinh thần và cơ thể
với thế giới sự vật hiện tượng(17).
Đến nửa đầu
thế kỷ XVII, Descartes (1596-1650) dùng khái niệm
"phản xạ" để cắt nghĩa và giải thích các hoạt động
tâm lư giản đơn của con người, cũng như động vật.
Sau đó, Locke (1632-1704) cho rằng mọi hiện tượng và
diễn biến tâm lư đều phát sinh từ kinh nghiệm tri
giác thông qua các giác quan. Cả Descartes và Locke
đều thuộc nhóm tư tưởng nhị nguyên, cho rằng ḍng
diễn biến của tâm lư tùy thuộc vào vừa thể xác, vừa
tinh thần. Cùng với nhóm tư tưởng này, ḍng "Tâm lư
học kinh nghiệm" (Psychological empirica) ra đời bởi
các nhà tâm lư như: J. Lov (1632-1701), Didro)
(1713-1781), Honback (1723-1789) v.v...
Ở thế kỷ
thứ XVIII, lần đầu tiên trong lịch sử tâm lư học
phương Tây xuất hiện một cách chính thức ngành tâm
lư học qua tác phẩm "Tâm lư học kinh nghiệm"
(Psychological empirica) (1732) và "Tâm lư học lư
trí" (Psychological rationalis) (1734) của C.
Wolff (1679-1754), một nhà triết học Ánh sáng
(Enlightenment) Đức. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu này,
tâm lư học chỉ là bộ môn của triết học, và được sử
dụng bởi phương pháp nội quan. Cho đến thế kỷ thứ
XIX, phương pháp nghiên cứu tâm lư nội quan dần dần
chuyển sang thực nghiệm bởi pḥng thí nghiệm đầu
tiên của Wilhelm Wundt được thành lập tại Leipzig,
năm 1897. Năm 1889, đại hội I về tâm lư học được họp
ở Pháp và từ đó tâm lư học được phát triển thành một
ngành khoa học chuyên môn, độc lập bao gồm nhiều
ngành học như: Tánh hạnh học (Psychologie du
Comportement Behaviourism) của Watson, Tâm h́nh học
(Psychologie de la Forme) hay Tâm lư học Grestalt
của Kohler (1887-1967), Wertheimer (1880-1943) và
Kofka (1886-1947), Phân tâm học (Psychanalyse) của
Freud v.v... Và đến những năm 20 đầu thế kỷ XX, có
Tâm lư học Marxist của Setchenov, K. Kornilov,
Vugotski, Rubinstein v.v...(18).
* * *
CÁC VẤN ĐỀ CỦA
TÂM LƯ HỌC
A- Đối
tượng của tâm lư học
Tâm lư học,
như đă tŕnh bày, là khoa học nghiên cứu về các hiện
tượng diễn biến của tâm lư, các qui luật và cấu trúc
tâm lư. Những vấn đề nêu trên quả thực rất phức tạp
theo các quan niệm khác nhau; do đó, có thể phân
loại các hiện tượng tâm lư như sau:
1/ Phân
loại 1:
Các hiện tượng
lư trí và t́nh cảm.
2/ Phân
loại 2:
Các hiện tượng
của ư thức và vô thức (như mộng du...)
3/ Phân
loại 3:
Các tiến tŕnh
của ư thức. Ở đây, chia làm ba loại:
a) Ư
thức có khởi đầu, diễn biến và kết thúc (ư thức
về một điều ǵ đó).
b) Ư thức xảy ra trong một thời gian ngắn nhất
(như sự bộc phát và mất đi của một ư niệm).
c) Các xu hướng ư thức ổn định (như t́nh cảm,
năng lực, khí chất...)
4/ Phân
loại 4:
a) Các
nhu cầu và động cơ của tâm lư.
b) Các khả năng và năng khiếu của con người.
c) Các thuộc tính của tâm lư con người.
Bên cạnh
đó, các hiện tượng tâm lư trong sự vận hành của tri
giác (nhận thức) con người được diễn ra như sau:
a) Nhận
thức cảm tính:
là nhận
thức qua các giác quan như: thính giác, thị giác,
khứu giác, vị giác, xúc giác, bao gồm hai quá
tŕnh cảm giác và tri giác.
b) Nhận
thức lư tính:
là nhận
thức bằng lư trí từ hai quá tŕnh: hoặc là tư
duy, hoặc là tưởng tượng.
Về các
thuật ngữ trên, có thể tóm tắt ư nghĩa của nó như
sau:
1/ CẢM
GIÁC:
là một quá
tŕnh tâm lư phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính của
sự vật khi nó tác động trực tiếp vào các giác quan
(thính, thị, khứu, vị, xúc) của con người. Cảm giác
là bước đầu của nhận thức, và cũng là nền tảng của
sự nhận thức. Không có cảm giác sẽ trở thành bất
giác, vô tri như gỗ đá, không thể nhận thức được
hiện tượng sự vật chung quanh/bên ngoài thế giới tự
nhiên. Tuy nhiên, cảm giác thông thường có ba cường
độ.
a)
Cường độ cần thiết, tối thiểu của kích thích để
gây ra cảm giác. (Tỉ dụ: cường độ cần thiết cho
thị giác có bước sóng ánh sáng là 390 mm, cho
thính giác là tần số 16 hertz).
b)
Cường độ trung b́nh là điều kiện tốt nhất cho
cảm giác. (Tỉ dụ: bước sóng ánh sáng cho thị
giác là 550-600 mm, tần số sóng âm thanh cho
thính giác là 1000 hertz).
c)
Cường độ tối đa (nếu quá là mất cảm giác) cho
cảm giác. (Tỉ dụ: bước sóng ánh sáng cho thị
giác là 780 mm, và tần số âm thanh cho thính
giác là 20.000 hertz).
Ngoài những
cường độ tối thiểu, trung b́nh và tối đa, con người
không thể cảm giác được ở mức độ dưới tối thiểu,
hoặc trên tối đa. Đây là giới hạn của các công cụ
thí nghiệm vật lư trong tiến tŕnh nghiên cứu tâm lư
của con người. Ở điểm này, Phật giáo có thể đi xa
hơn trong việc kiểm thảo ḍng chảy của các hiện
tượng tâm lư.
Đồng thời
cảm giác cũng có những qui luật căn bản như: thích
ứng, tương tác, nối tiếp, tương phản và bù trừ
v.v...
2/ TRI
GIÁC:
là quá tŕnh
tâm lư tổng hợp những cảm giác riêng lẻ để h́nh
thành nên một tri giác toàn vẹn về một sự vật, hiện
tượng nào đó.
Câu chuyện
"Những chàng mù rờ voi" của Đức Phật có thể cho thấy
từng chi tiết của tri giác như sau:
a) Do
tích lũy kinh nghiệm và ngôn ngữ, nên tri giác
về sự vật sẽ bổ sung cho nhau và tạo thành một
đối tượng toàn diện của tri giác. Tỉ dụ các
chàng mù, người rờ tai voi th́ cho rằng con voi
giống cái quạt; rờ chân voi th́ cho rằng con voi
giống cái trụ cột v.v...
b) Do
tựa vào kinh nghiệm cũ nên tri giác về sự vật
mới sẽ tạo nên kinh nghiệm mới. Tỉ dụ: v́ đă
biết h́nh thù của cái quạt, nên khi rờ tai voi,
chàng mù cho rằng con voi giống cái quạt v.v...
c) Do
đó, nếu tri giác sai lầm th́ dẫn đến kinh nghiệm
sai lầm. Kinh nghiệm cũ sẽ bổ sung cho tri giác
và làm cho tri giác hoàn thiện hơn. Và sự kết
hợp của các quan năng (5 giác quan) là cơ sở
kinh nghiệm của tri giác.
Từ đây tri
giác, cũng như cảm giác, có một số qui luật cơ bản
như: tính chất phân biệt, chọn lựa đối tượng, tính
chất ổn định, tính chất biến động, tính chất ảo ảnh,
tính chất chủ định, và không chủ định v.v...
3/ TƯ DUY:
Là
hoạt động trí tuệ cao nhất của nhận thức, đứng trên
cảm giác và tri giác, là sự tương tác, phản ảnh giữa
bản thân và thực tại một cách chủ động bằng những
khái niệm, phạm trù. Tư duy chỉ có ở con người.
Các thao
tác của tư duy là: phân tích, tổng hợp, đối chiếu,
so sánh, biện minh, loại suy, đồ thị hóa, hệ thống
hóa v.v... Do đó, tính chất của tư duy là năng động,
sáng tạo, khái quát hóa, phản ánh gián tiếp thông
qua các dấu hiệu, ngôn ngữ, kinh nghiệm v.v... V́
vậy sản phẩm của tư duy chính là các khái niệm phân
biệt, các phán đoán suy lư (hoặc diễn dịch, hoặc qui
nạp) phát sinh từ sự giao tiếp.
4/ TƯỞNG
TƯỢNG:
là sự thiết
lập những ảnh tượng mới không có trong thực tại trên
cơ sở của những biểu tượng đă có. Tính chất của
tưởng tượng là sáng tạo, loại suy (analogie) hay cao
hơn là phỏng sinh (bionique) thông qua sự lắp ghép
các khái niệm, biểu tượng, ngôn ngữ... Tưởng tượng
diễn theo hai chiều: tiêu cực, là các mộng tưởng hăo
huyền ...; và tích cực là các lư tưởng về một mục
đích cao đẹp thúc giục con người vươn lên sự phát
triển toàn diện các năng lực, đức tính v.v...
Trên cơ sở
này, ḍng trôi chảy của tâm lư tiếp tục phát sinh
các hiện tượng: t́nh cảm, xúc cảm, vui, buồn, khổ
đau, hạnh phúc v.v... (19)
B- Khái
niệm của tâm lư học
Trong tâm
lư học hiện đại, các khái niệm thường được dùng để
mô tả và diễn đạt các hiện tượng tâm lư như: ư chí,
hành động ư chí, trí nhớ, sự lăng quên, sự chú ư,
nhân cách, tánh hạnh - bao gồm cả năng lực, tính
cách, khí chất và khuynh hướng. Ở đây, chúng ta khảo
sát sơ lược về ư nghĩa của các khái niệm trên như
sau:
1/ Ư chí:
là
một phẩm chất đặc thù trong tâm lư con người, giúp
vượt qua những chướng ngại bằng sự nỗ lực, kiên tŕ
của tự thân. Ư chí thường là biểu hiện hai mặt của
nhận thức, tức là lư trí và t́nh cảm. Nhận thức càng
sâu sắc, t́nh cảm càng mạnh th́ ư chí càng lên cao.
Do đó, đối với con người, ư chí có những tính chất
nhất định như: tính chủ đích, quyết đoán, độc lập,
dũng mănh, kiên tŕ, tự chủ và tự kiềm chế.
2/ Hành
động ư chí:
là sự biểu
thị, biểu hiện của ư chí của nhân cách con người bao
gồm các tính chất kỹ xảo và thói quen.
3/ Trí nhớ:
là
tiến tŕnh lưu trữ và duy tŕ các kinh nghiệm, kiến
thức, ấn tượng,... của tâm lư dưới h́nh thức của
những hạt giống biểu tượng, dấu hiệu... Trí nhớ được
chia thành nhiều loại, tùy thuộc vào các giác quan
như: nghe, nói, đọc, viết. Thông qua các kỹ năng
trên mà trí nhớ lưu trữ các ảnh tượng của ngôn ngữ,
h́nh ảnh, cảm xúc v.v...
4/ Sự lăng
quên:
là những ǵ
chỉ một lần đi qua tâm thức và bị quên đi, v́ các lư
do: không chú ư, không hứng thú (về phía chủ thể) và
không được lặp đi lặp lại, không tạo được các kích
thích, ấn tượng mạnh ... (về phía đối tượng).
5/ Sự chú
ư:
là định hướng tập trung vào một đối tượng nào đó của
ư thức. Sự chú ư có khi mang theo t́nh cảm và ngược
lại là sự đăng trí. Có hai loại đăng trí: - Đăng trí
b́nh thường, tức sự không chú ư, và đăng trí bác
học, tức là sự tập chú cao độ ở một đối tượng nào đó
mà quên hẳn đi các đối tượng xung quanh.
6/ Nhân
cách:
là những đặc
trưng tâm lư ổn định (thói quen) của cá nhân, và
h́nh thành nên một giá trị của cá nhân đó trong
tương quan giữa cá nhân và xă hội. Nhân cách là đặc
tính người của con người.
Theo
Schiffman, "nhân cách có thể miêu tả như là những
đặc trưng của tâm lư vừa qui định và phản ánh cách
thức mà con người ứng xử với môi trường xung quanh".
(20)
Về cấu trúc
của nhân cách thường được xem là phẩm chất và năng
lực cộng với đức hạnh và tài năng.
7/ Khuynh
hướng:
là những ư
muốn hướng đến một mục tiêu nào đó của tâm thức con
người. Khuynh hướng thường bao gồm các đặc trưng
như: nhu cầu, cảm hứng, lư tưởng, quan điểm v.v...
8/ Năng
lực:
là khả năng
khi thực hiện sẽ đưa đến một kết quả nhất định nào
đó của con người. Năng lực được xem như là một tổng
thể bao gồm các đặc trưng: tri thức, kỹ xảo, kỹ
thuật, thái độ tâm lư dũng mănh v.v...
9/ Tính
cách:
là sự biểu
hiện của tâm lư qua h́nh thức cử chỉ, thái độ, tác
phong, phong thái ... mang tính chất cá tính của mỗi
cá nhân.
10/ Khí
chất:
là sự biểu thị
cường độ và tốc độ của các hoạt động tâm lư trong
thể cách ứng xử của con người. Khí chất thường được
chia thành các loại: nóng nảy, hăng hái, b́nh thản,
ưu tư ...
Trên đây là
một số khái niệm quen thuộc trong tâm lư học hiện
đại; giờ đây, chúng ta đi vào khảo cứu phương pháp
của tâm lư học.
C-
Phương pháp tâm lư học
Thông
thường ngành tâm lư học dùng các phương pháp chuyên
môn để đoán định, phân tích, giải kiến các hiện
tượng tâm lư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ở
đây, có thể liệt kê một số phương pháp chuyên môn
như sau:
1/
Phương pháp nội quan (Méthode introspective)
Là phương
pháp mà tự chủ thể quan sát các hiện tượng diễn tiến
trong tâm lư của chính ḿnh. Phương pháp này được
dùng một cách phổ biến trong tâm lư học của Ribot,
trong phân tâm học của Freud, và tâm lư học thực
nghiệm (introspection expérimentale) của
Wurzbourg...
2/
Phương pháp ngoại quan (Méthode objective)
Phương pháp
này được dùng để quan sát đối tượng khác nó; ở đây,
chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát hoàn
toàn khác nhau. Phương pháp ngoại quan được ứng dụng
bằng nhiều cách khác nhau như:
- Quan
sát: ghi nhận, khảo sát các biểu hiện từ bên
ngoài.
- Thí
nghiệm: bao gồm thí nghiệm tự nhiên và thí
nghiệm qua dụng cụ.
- Trắc
nghiệm: bao gồm trắc nghiệm tổng hợp (test
synthétiques), trắc nghiệm phân tích (test
analytiques), trắc nghiệm phẩm chất (test
qualitatifs), trắc nghiệm số lượng (test
quantitatifs), trắc nghiệm định hướng (test
d’aptitudes) v.v...
- Phỏng
vấn.
- Dùng
bảng câu hỏi v.v...
Phương pháp
ngoại quan thường áp dụng cho các ngành tâm lư học
như: tâm sinh lư học (psycho-physiologie), phản xạ
học (réflexologic) của Pavlov và Bechterev, tánh
hạnh học (behaviourism, psychologie du comportement)
của Watson, tâm vật lư học (psychophysique) của
Weber và Fechner, tâm lư động vật (psychologie
animale) của Auguste Forel, Piéron, Kohler, Boulan
..., tâm lư trẻ em (psychologie des enfants) của
Watson, Guillaume ..., tâm bệnh lư học (psychologie
pathologique) của Freud, Ribot, Jaspers v.v...
3/ Những
giới hạn của phương pháp nội quan và ngoại quan
a) Nội
quan: Như cách ngôn "ḍng ư thức" (stream of
consciousness) của W. James, ư thức không phải là
một thực thể (entity) đơn nhất mà là một tiến tŕnh
trôi chảy bất tận. Do đó, những ghi nhận về tâm lư
của con người chính nó bao giờ cũng sai lệch, khó
chính xác; v́ ư thức trong từng chập tư tưởng luôn
luôn thay đổi. Vả lại, nội quan là một thế giới khép
kín của ư thức chủ quan; nó chỉ cho phép (chủ thể
quan sát) biết được chính nó, tức thế giới ư thức,
tinh thần, t́nh cảm... của riêng ḿnh, chứ không thể
biết được ḍng tâm thức của người khác, ngoại trừ
những phán đoán và suy luận mang tính cách công ước.
b) Ngoại
quan: Các giới hạn lớn nhất của ngoại quan là không
thể trực tiếp ghi nhận các hiện tượng diễn tiến của
tâm lư mà phải thông qua các phản ứng sinh lư. Do
vậy, những kết quả đem lại từ ngoại quan không hẳn
lúc nào cũng chính xác.
Ngoài những
giới hạn vừa nêu, phương pháp nội quan và ngoại quan
đă đóng góp một một cách hữu ích thiết thực cho tiến
tŕnh nghiên cứu tâm lư học từ xưa đến nay. (21)
* * *
NHỮNG LƯ
THUYẾT TIÊU BIỂU VỀ TÂM LƯ HIỆN ĐẠI
Như đă
tŕnh bày, có rất nhiều lư thuyết về tâm lư học hiện
đại. Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ đề cập đến một số
lư thuyết tiêu biểu liên hệ đến tâm lư con người và
tâm lư xă hội, nghĩa là các thuyết được tập trung
vào các vấn đề then chốt như: tâm thức và bản ngă
(hay nhân tính) trong tương quan giữa con người và
xă hội; và đó cũng là điểm trọng tâm của ngành tâm
lư giáo dục hiện đại.
1- Lư
thuyết của George Herbert Mead (1863-1931)
George H.
Mead là một giáo sư triết học về tâm lư xă hội thuộc
Đại học Chicago, ông là một học giả chuyên chính có
ảnh hưởng rộng lớn; tuy nhiên, chưa bao giờ viết
sách hay báo để biện minh học thuyết của ḿnh. Những
lớp tâm lư học đầu tiên của ông được dạy từ năm 1900
tại Đại học Chicago. Về sau, vào những năm
1927-1930, người ta đă viết lại tư tưởng của Mead và
phổ biến rộng răi. Phần tŕnh bày dưới đây được
trích dẫn từ tác phẩm "Mind Self and Society" (21)
và được tóm tắt trong nội dung quyển "Sociology"
(22) của Leonard Broom, và Philip Selznick.(23)
Nội dung lư
thuyết tâm lư của Mead được tŕnh bày qua các điểm
trung tâm của: tâm thức, bản ngă, và xă hội.
Chủ thuyết
của Mead, cũng như John Dewey (một triết gia thực
nghiệm), cho rằng cơ cấu tâm lư của con người là một
hệ thống bao gồm: tâm thức, bản ngă và xă hội. Tuy
nhiên, theo Mead, tâm thức (mind) và bản ngă (self)
vốn là sản phẩm của xă hội. Tâm thức và bản ngă là
một hệ thống xă hội, phát sinh từ kinh nghiệm xă
hội; và do đó, có thể xem bản ngă của tâm thức là
một đơn vị độc lập, nhưng không thể phát sinh ngoài
kinh nghiệm xă hội. (24)
Mead, qua
ghi nhận của L. Broom và P. Selznick, lư luận rằng:
"Tư tưởng hay tâm linh và bản ngă, chỉ xuất hiện
trong diễn tiến giao tế và giao dịch xă hội, chứ
không thể có trước xă hội. Nhưng làm thế nào giao tế
và giao dịch xă hội có thể hoạt động trước tâm linh
và bản ngă ?". Mead giải thích: "Khả năng giao dịch
và giao tế là khả năng sinh lư của những sinh vật
thượng đẳng. Thực vậy, giao tế bằng những phương
tiện không dùng ngôn ngữ trong những hoạt động chung
là điều kiện có trước ngôn ngữ. Ngôn ngữ đă góp thêm
vào sự giao dịch và giao tế thô sơ, của loài người
bằng cách làm cho xă hội hóa có thể thực hiện được.
Nhờ ngôn ngữ nên người ta có thể lĩnh hội rơ ràng
thái độ của những kẻ khác và các đoàn thể họ tham dự
vào ... Cuối cùng, tâm thức và bản ngă phát sinh khi
giao tế xă hội đi song song với ngôn ngữ và do ngôn
ngữ mà được hoàn thành" (25).
Từ đó, lư
thuyết tâm lư của Mead đưa ra tiến tŕnh phát sinh
và phát triển của bản ngă từ thái độ bắt chước đến
khả năng tổng quát-liên hệ. Có thể tóm tắt lư luận
căn bản của Mead như sau:
a) Giao
tế tiền ngôn ngữ
Trong nhiều
trường hợp, các giống vật giao cấu với nhau và săn
sóc trẻ con làm cho phát sinh sự tương quan giữa con
này và con kia, đó là sự phát sinh của đời sống gia
đ́nh- thô sơ trong các giống vật thấp hơn người.
Đối với con
người, do đó, nếu không thể giao dịch bằng cử chỉ -
(hành động không lời) - th́ không thể giao tiếp bằng
ngôn ngữ. V́ lẽ các trẻ em nhỏ tuổi, nó sẽ không
hiểu được "giận" hay "đói" là ǵ trừ phi nó hiểu
được cử chỉ giận hờn và cho ăn của người mẹ v.v...
Đây là giai đoạn đầu của ư thức về bản ngă hay giai
đoạn giao tế tiền ngôn ngữ. (26)
b) Giai
đoạn ngôn ngữ h́nh thành tâm thức và bản ngă
Trong
trường hợp này, Mead cho rằng, nhờ có ngôn ngữ nên
có tư tưởng và nhờ có tư tưởng nên mới có sự giao
tế; và nhờ có ngôn ngữ nên có thể thay thế tư tưởng
bằng hành vi, thái độ, cử chỉ... Ở đây, sau khi đứa
bé hiểu được cử chỉ "giận hờn" và học được chữ "giận
hờn", người mẹ không cần dùng đến cử chỉ nữa mà chỉ
dùng lời nói để biểu thị tư tưởng. Và, v́ mẹ và con
cùng hiểu những khái niệm về cử chỉ và ngôn ngữ, nên
đứa bé có ư niệm về sự "giận hờn" ... Do đó, tự nó
sẽ làm theo những ǵ phù hợp với ư muốn của mẹ nó
(hay ư muốn của những người xung quanh nó); nghĩa là
nó lấy thái độ của người khác hay những thái độ được
qui ước chung của xă hội làm khuôn mẫu nương theo.
Đây là sự h́nh thành nhân tính hay ư thức về tự ngă
đầu tiên của mỗi con người.
c) Bản
ngă - xă hội
Như vừa đề
cập, sự phát sinh thế giới ư niệm của trẻ con là do
sự học tập và hấp thụ thái độ, ngôn ngữ, quan
điểm,... của kẻ khác; và bằng cách đó, xă hội "đi
vào cá nhân". Nhưng theo Mead th́ chỉ có con người
mới có khả năng kiểm thảo và tự kiểm thảo; và sự tự
kiểm thảo đó là kết quả của xă hội. V́ từ đầu,
nguyên tắc hướng dẫn con người vốn là kết quả của sự
lĩnh hội các thái độ và quan điểm... từ những người
khác, tức từ xă hội mà không phải là từ con người
chính nó. V́ thế, ư thức về tự ngă luôn luôn mang
tính xă hội, và hiện hữu giữa tương quan của con
người và xă hội.
d) Bản
ngă và sở hữu tự ngă
Ở điểm này,
Mead nới rộng quan niệm về tự ngă, cho rằng nó không
những là sản phẩm của xă hội mà c̣n có tính chất
sáng tạo. Từ đó, ông chia bản ngă thành hai loại:
bản ngă và sở hữu tự ngă (hay cái thuộc tính cố định
của bản ngă). Nếu nói theo từ ngữ của Freud th́ bản
ngă không bị kiểm soát bởi sở hữu tự ngă, mà trái
lại, sở hữu tự ngă là một phần của bản ngă. Do đó,
sở hữu tự ngă có thể gọi là những tri kiến, kinh
nghiệm, khát vọng ... của bản ngă. Và như thế, nó
không hẳn lúc nào cũng bị chi phối bởi những ǵ mà
nó lĩnh hội, nhưng trái lại, nó có thể hành động rất
sáng tạo, ảnh hưởng đến hay thay đổi mọi cơ cấu của
tiến tŕnh xă hội.
2- Lư
thuyết của Sigmund Freud (1856-1939)
Sigmund
Freud là một bác sĩ về thần kinh và tâm thần người
Áo, sáng lập ngành Phân tâm học (Psychoanalysis). V́
Freud là gốc người Do Thái, từ năm 1938 ông sống lưu
vong để tỵ nạn chế độ phát xít Đức, và mất tại Anh
vào năm 1939. Xuất phát từ một phương pháp trị bệnh
rối loạn thần kinh đặc biệt (hystérie), Freud đă đề
xuất phép trị liệu phân tâm học bằng sự sử dụng liên
tưởng, mộng để phân tích những động lực mạnh (choc)
gây bệnh. Về sau phân tâm học trở thành chủ nghĩa
Freud (Freudianism) và đề xuất hai bản năng gốc là
"bản năng t́nh dục" và "bản năng chết", xem đó là
nguyên động lực chi phối tiến tŕnh lịch sử nhân
loại. Sau đó, lại tiếp tục h́nh thành nên chủ nghĩa
Freud mới (Neo-Freudianism) với các đại biểu chính
là E. Fromn, K. Horney v.v...
Lư thuyết
của Freud có thể được tóm tắt như sau: Freud cho
rằng cấu trúc nhân tính hay ngă tính của con người
bao gồm ba phần: Bản năng (Id), ngă tính (ego) và
siêu ngă (superego), cũng gọi là "ư thức" ba ngôi.
(27)
a)
Bản năng (Id):
Bản năng là
cội nguồn nhân tính của con người, ở đó tích lũy các
nguồn năng lượng và cung cấp năng lực cho các hoạt
động tâm lư như ư thức (ego) và siêu thức
(superego). Khi nguồn năng lượng gia tăng khiến cho
bản năng bùng phát mạnh tạo thành những cú sốc
(choc) tâm lư khó chịu, căng thẳng, bực tức ...
Ngược lại, sự giải trừ các căng thẳng và qui giảm
năng lượng trở về trạng thái ổn định, thư giăn ...
là con đường phấn khích đưa đến khoái lạc. Do đó,
bản năng được chia thành hai loại tác năng chính, đó
là: "bản năng t́nh dục" (libido) và "bản năng chết".
- Về bản
năng t́nh dục (libido): nó là cội nguồn, năng lượng
t́nh dục, năng lực kích thích t́nh dục, phấn khích
t́nh yêu ... và chi phối đời sống nội tâm. Ở điểm
này libido được xem như là "nguyên tắc khoái lạc".
Nó vừa là sự phát triển t́nh dục của người lành mạnh
và được mở rộng cho đến các hoạt động khoa học, mỹ
thuật của cá nhân, lại vừa là căn nguyên của bệnh
lư. Về sau, Freud liên hệ rộng hơn nữa về khái niệm
libido cho tất cả xung năng của t́nh yêu, như t́nh
yêu giữa bố mẹ và con cái...
- Về bản
năng chết (pulsion de mort) hay lực chết: nó diễn ra
theo chiều hướng ngược lại khi tùy vào mức độ tăng
tốc của năng lượng trong bản năng (Id) đi đến đỉnh
cao như tức tối, giận dữ... làm tăng huyết áp, ngất
xỉu, tử vong...
Theo nhận
xét của C. Jung, libido không những là xung năng
(pulsion) của t́nh dục, mà c̣n là năng lượng của tâm
lư nói chung. (28)
b) Ư
thức tự ngă (ego)
Freud cho
rằng, ư thức tự ngă luôn luôn bị chi phối bởi bản
năng (Id) mà nội dung chính của nó là "libido" hiểu
theo nghĩa rộng - tức là mọi nhu cầu, khát vọng, dục
vọng, thèm muốn giao tiếp với thế giới thực tại
khách quan. Ư thức là là bản năng khát vọng sống của
tự ngă ( cái tôi). Nhưng khi ư thức tự ngă bị kiềm
chế bởi những khuôn định, qui ước xă hội (social
conventions) nó lại đi vào vô thức (inconscient).
Rồi từ đó, những xung năng khát vọng bộc phát lên ư
thức, biến thành những ưu phiền, lo âu... "Cái tôi"
của mỗi cá thể luôn luôn bị phá vỡ bởi sự mâu thuẫn
của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ư thức xă
hội.
c)
Siêu ngă (superego)
Siêu ngă
cũng được gọi là siêu thức, nó vượt lên trên bản
năng t́nh dục (sexuality) và ư thức tự ngă để duy
tŕ mọi giá trị truyền thống và các lư tưởng đạo đức
xă hội. Nó, một mặt vừa kiềm chế sự thôi thúc của
"khát vọng dục tính" (sexual desize), mặt khác thúc
giục ư thức bảo tŕ các giá trị đạo đức cá nhân và
xă hội. Do đó, siêu thức là ư thức vươn đến sự hoàn
thiện của đời sống.
Theo đánh
giá của L. Broom và P. Seiznick, th́ cả hai triết
gia thực nghiệm George H. Mead và Sigmund Freud,
những người sáng lập ngành giải phẫu tâm lư này đă
đóng góp một phần lớn vào tiến tŕnh nghiên cứu bản
ngă trong quá tŕnh xă hội hóa. (29) Tuy nhiên, như
chúng ta thấy, quan điểm của Mead và Freud hoàn toàn
khác nhau. Mead th́ lấy xă hội làm nền tảng cho sự
phát triển của ư thức, trong khi Freud th́ cho rằng,
những qui ước xă hội đă kiềm hăm và làm sai lệch ư
thức tự ngă. Mead chia ư thức thành hai phạm trù:
bản ngă (ego) và sở hữu tự ngă (ego - attribute), và
cho rằng cả hai đều nương tựa vào xă hội mà h́nh
thành và phát triển. Ngược lại, Freud chia ư thức
làm ba phạm trù: bản năng (Id), ư thức (ego) và siêu
thức (superego); và ở đó, bản năng (Id) là phần
trọng tâm của sinh lư cá thể mà xă hội không thể nào
điều hành được, ego là người trung gian ḥa giải các
nhu cầu sinh lư và những đ̣i hỏi của xă hội. Đối với
Mead, ngă và sở hữu tự ngă có thể dung hóa lẫn nhau,
trong khi theo Freud, các phạm trù của ngă luôn tiềm
tàng những khả năng xung đột, mâu thuẫn (30)... hay
c̣n gọi là xung năng (pulsion). (31)
3- Lư
thuyết của Carl Gustav Jung (1875-1961)
Carl Gustav
Jung là người cùng thời với Freud, một nhà phân tâm
học tại Zurich. Lúc đầu, Jung là môn đệ trung thành
của chủ thuyết Freud (Freudianism) sau khi tiếp xúc
với Freud tại Áo, vào năm 1907. Nhưng sau đó, ông từ
chối hoàn toàn chủ thuyết của Freud, cho rằng đó là
lư thuyết dục tính đă bị đồng hóa bởi dục tính cá
nhân của Freud; và do đó, ông nỗ lực xây dựng một lư
thuyết mới, gọi là "tâm lư trị liệu".
Theo đánh
giá của Calvin S. Hall và Gardner Lindzey, trong
"Theories of Personality" (32), th́ Jung luôn luôn
sáng tạo trong cách phân tích tâm lư của ḿnh. Với
ông, cái tự ngă (personality) như là một tổng thể
bao gồm các mặt của đời như: ư thức, vô thức, cảm
thức, cá nhân, xă hội, nữ tính, nam tính, nhân tính,
thú tính, tri giác, trực giác v.v..., tất cả tính
chất đó được xem như là tác năng của một "trục nhân
tính" (axis of the personality). Do đó, theo Jung,
trong nam giới có chứa những nữ tính, trong nữ giới
có chứa những nam tính. Tương tự như thế đối với
những thú tính (animal nature) và nhân tính
(personality) trong cùng một con người.
Và cũng từ
đó, Jung phân tích bệnh lư qua các hội chứng như:
dồn nén (repression), mặc cảm (oedipc), giận dữ, tức
tối (truculent), trầm mặc (inhibited), qui kỷ
(egocentric), đa cảm (hyperémotivité) v.v... đều
xuất sinh từ ư thức tự ngă, những ấn tượng, tri
giác, kư ức, cảm xúc... đă qua và bị dồn nén vào vô
thức tạo thành những xung năng (pulsion) gây nên
trạng thái bất b́nh, bất an, bực tức, căng thẳng cho
ḍng chảy của tâm lư. (33)
Mặc dù Jung
phê b́nh Freud, như vừa đề cập ở trên, nhưng chúng
ta thấy lư thuyết của Jung nhằm vào các hiện tượng
tâm lư nhiều hơn là bản chất của tâm lư như ở tâm lư
học Freud. Tuy nhiên, lư thuyết của cả Freud và Jung
đều là những dấu ấn vàng son, đặc sắc trong lịch sử
tâm lư học hiện đại.
4- Lư
thuyết của Erich Fromm (1900-1980)
Erich
Fromm, một nhà phân tâm học và xă hội học người Mỹ
gốc Đức, sinh tại Frankfurt. Năm 1922, ông tốt
nghiệp tiến sĩ tại Đại học Heidenberg, đến năm 1933,
ông sang Mỹ và dạy tại Đại học Chicago, ngành phân
tâm học.
Quan điểm
của Fromm có phần tương tự với Carl .G. Jung, cho
rằng con người là một tổng thể bao gồm các đặc trưng
của nhân tính (personality) và thú tính (animal
nature), và chính điều đó là mâu thuẫn nội tại trong
sự vận hành tâm lư của con người. Do đó, trong tính
cách của hoặc là thú tính hoặc là nhân tính, con
người nhất thiết cần phải có những nhu cầu nhất
định. Tuy nhiên, cũng như George H. Mead, Fromm cho
rằng sự phát triển của nhân tính là tùy thuộc vào
những cống hiến của xă hội. Nhưng, với xă hội th́ ư
thức về sự tự do luôn luôn làm cho con người cảm
nhận sự bất an trong tâm lư. Đây là nội dung mà
Fromm tŕnh bày trong tác phẩm "Thoát khỏi tự do"
(Escape from Freedom) (34), và p |