WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE !
Vien Hoa Dao thich tue sy.jpg

Hit Counter Visistors so far !

THE UNIFIED BUDDHIST CHURCH OF VIET NAM - GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT- THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE

Kính Mời Chư Tôn Đức Tăng Ni Cùng Quí Phật Tử Tham Dự  Lễ Vu Lan Tại Room Đạo Tràng Thảo Luận Phật Pháp Online được tổ chức trong nay mai  

Cố Hoà thượng Ân Sư Thích Trí Thủ (Bị Chính quyền Cộng Sản Việt Nam Thủ Tiêu Đầu Độc vào đầu tháng 4/1984)

Xin Thông Báo Khẩn Cấp: cô Thừa Thiên thành viên của hội Từ Bi Tâm không may bị tai nạn xe hơi, chấn thương sọ naơ, xin quí phật tử liên lạc với anh HotCali hơặc anh Blind @ room SHPP hoặc phone: 714-554-5050 hoặc 714-609-6828-Password to phần 1) download bai giang : alanbao or duongtieu- Mọi Cúng Dường Về Trại Phong B́nh Minh và Người dân nghèo khổ tại Viet Nam Xin Gửi Cho Huynh GodFather87  Thủ Quỷ của TuBiTam Charity Organization , Check xin đề : Từ Bi Tâm và cúng dường vào việc ǵ; địa chỉ 1343 S.Scarborough Ln. Anaheim, Ca 92804 , USA. Xin thành kính tri ân quư vị phật tử-Thay mặt ban Điều Hành Từ Bi Tâm :Ban Điều Hành Dân Chủ gồm 6 người  : DươngTiêu-ATB-Godfather87-Blindlistener-Bingo2k2 va` Hotcali(Hồtịnhtâm) dưới sự hướng dẫn tinh thần của sư cô LiễuPháp website: www.tubitam.com

DownLoad Bài Giảng

H́nh Ảnh Sinh Hoạt

Trại Hè Phật Tử 2006 Dallas

1a)Chương Tŕnh Từ Thiện

Truyện Phật Giáo(DiệuHiền)

Tin Tức Giáo Hội

3)Liên Lạc

Hướng Dẫn Nghe Pháp

H́nhẢnh GHPGVNTN

3e)PhápÂm/PhỏngVấn

4)Lịch Sinh Hoạt

Home

Khóa Tu Học

T́m Kiếm(search)

Tin Phat Giao The Gioi

Tin Việt Nam/Thế Giới

 

 

Thuong To aThich Tri Sieu Le Manh That

Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hăi

Cố Sư Bà Thích Nữ Diệu Không

 

 

WELCOME TO THẢO LUẬN PHẬT PHÁP ONLINE!

ĐÀN ÁP TÔN GIÁO LÀ HUỶ DIỆT SỨC SỐNG CỦA DÂN TỘC !

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
VIETNAMESE AMERICAN UNIFIED BUDDHIST CONGRESS IN THE UNITED STATES OF AMERICA
VĂN PH̉NG II VIỆN HÓA ĐẠO - HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
VPLL: 311 E. MISSION ROAD, SAN GABRIEL CA 91776 * TEL 626 614-0566 * FAX 626 286-84
37

.

Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cơi Thật

Thế Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ !

Ta Cứ Ngỡ Xuống Trần Chơi Một Chốc 

Nào Ngờ Đâu Ở Măi Đến Hôm Nay !  

Cố Hoà Thượng Thích Huyền Vi 

DươngTiêu và T.T Thích Giác Đẵng

DươngTiêu anh PhongTrần và T.T Thích Viên Lư

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

CÁC CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU SỬ HỌC

CỦA SỬ GIA - NHÀ TOÁN HỌC THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ SIÊU LÊ MẠNH THÁT

Thuong To aThich Tri Sieu Le Manh That 

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam

Penalty : Police surveillance, past imprisonment

Location : Thien Vien Van Hanh, Q Phu Nhuan, TP HCM, Viet Nam

(Van Hanh Zen Center, District Phu Nhuan, HCM City, Vietnam)
Telephone :
N/A

 

*       Born Le Manh That on April 15, 1944 in Quang Tri province, Reverend Thich Tri Sieu went into the monkhood at the age of 12.


 

*       He studied in Vietnam and abroad, receiving a Ph.D. in Buddhist studies and philosophy in May 1974 from the University of Wisconsin. In Vietnam, he was a professor at the Van Hanh University and coeditor of the Encyclopedia of Vietnamese Buddhism (with Ven. Thich Tue Sy).


 

*       On April 2, 1984, he was arrested with other Buddhist monks and followers at Gia Lam Temple in Saigon. He was detained for four years without trial in Chi Hoa prison. On September 30, 1988, Rev. Thich Tri Sieu, a member of the Unified Buddhist Church of Vietnam (UBCV), was brought to trial for “plotting to overthrow the People's Government” and given a death sentence.


 

*       On November 15, 1988, following international protest, the Supreme People’s Court of Vietnam commuted the sentence of Rev. Thich Tri Sieu to 20 years imprisonment. He was imprisoned at Prison Camp Z230A, Dong Nai province, along with many other political prisoners.


 

*       On August 31, 1998, Rev. Thich Tri Sieu was released from prison. He told a human rights organization (the International Buddhist Information Bureau): “In the New Economic Zone near my prison, on a stretch of desolate waste-land, the local people set up a make-shift Pagoda commonly known as the ‘Tin-roof Pagoda’ so they could study and practice Buddhism. This is a simple act, but it shows how deeply Buddhism has impregnated the common people in Viet Nam...Before I was arrested, I was writing a book on the history of Vietnamese Buddhism from its origins until today. I had written up to the rule of King Ly Nam De (IV Century AD). Then I was arrested, so I had to stop. But I am ready to finish it now.”


 

*       Rev. Thich Tri Sieu, who had been under intermittent house arrest at the Van Hanh Zen Center in Ho Chi Minh City, is currently under police surveillance.

 

Nh́n tổng quát công tŕnh nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học...  của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên.  Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên ḍng sử mệnh quê hương.

Là đóa hoa ưu tú, tinh ba của dân tộc, là bậc kiệt xuất anh tài của Phật Giáo Việt Nam, sử gia Lê Mạnh Thát đă khai quật những nguồn tài liệu vô cùng quư giá mà suốt một ḍng thời gian hơn 2000 năm qua bị tản thất, vùi dập trong sự lăng quên.  Thầy đă khám phá những chứng tích lịch sử mà từ trước đến nay chưa được thấy trên diễn đàn văn học nước nhà.  Từ đó Thầy đă cống hiến những tác phẩm dày công sưu khảo, đầy giá trị sử học vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam ngày thêm phong phú và đa dạng. Chúng tôi kính giới thiệu đến quư vị một số tác phẩm như sau:

1.         Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam -  3 tập.

2.         Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam -  3 tập.

3.         Toàn Tập Minh Châu Hương Hải.

4.         Toàn Tập Trần Thái Tông.

5.         Toàn Tập Trần Nhân Tông.

6.         Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài.

7.         Nghiên Cứu Về Mâu Tử -  2 tập.

8.         Chân Đạo Chánh Thống.

9.         Lịch Sử Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam.

10.       Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam -  2 tập.

11.       The Philosophy of Vasubandhu.

12.       Ngữ Pháp Tiếng Phạn

 

Từ những tác phẩm trên, và qua lời tựa của tác phẩm Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, đă tạo nên những cảm xúc thâm trầm cho thấy Phật Giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam đă ḥa quyện với nhau kể từ khi Phật Giáo được truyền vào quê hương Việt Nam cho đến ngày hôm nay.  Suốt một ḍng lịch sử hơn 2000 năm qua, Phật Giáo đă ḥa ḿnh theo vận nước, đă thăng trầm theo thời cuộc.  Chưa có một thời gian nào, một triều đại nào mà Phật Giáo tách khỏi dân tộc, không cùng chung vai gánh vác sơn hà xă tắc qua những cơn nguy biến.

Trong chiều dài lịch sử đó, Chư vị Thiền Sư, quư Phật tử đă thực sự đem tài ba lỗi lạc của ḿnh, đem trí năo tâm linh để tài bồi xây dựng cho kho tàng văn hóa nước nhà có được những tư liệu đồ sộ, giá trị quư báu.

Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, công tŕnh khảo cứu vẫn chưa hoàn tất trong nguồn tư liệu có được.  Chúng ta phải dày công nghiên cứu và đóng góp nhiều hơn nữa để khai triển và hệ thống hóa một cách nghiêm túc trên nền tảng các chứng tích, tư liệu đó.  Chúng ta cần gia công bảo tŕ và phát triển nền văn hóa dân tộc ngày thêm lớn mạnh, nhằm góp phần xây dựng đời sống văn minh tiến bộ và thánh thiện cho con người hôm nay và mai sau.

Qua lời đầu sách đă cho chúng ta một ư thức rằng kho tàng tri thức của các Thiền sư và Phật tử c̣n tàng trữ quá nhiều ở các ngôi cổ tự, đại ṭng lâm.  Dưới những mái chùa mà thời gian đă hóa thành rêu phong phủ kín đă lưu xuất những bông hoa trí tuệ để cống hiến cho nền Văn hóa đặc thù của dân tộc quê hương.

Nội dung của Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển I khảo cứu về Mâu Tử, Lư hoặc Luận và Khương Tăng Hội.

Lời dẫn về Lư hoặc Luận:

...  Trong cuộc đấu tranh và phát triển đầy cam go gian khổ, nhưng cũng đầy hào hùng hoành tráng của dân tộc, mỗi khi lịch sử bước vào những giây phút thử thách gay gắt quyết liệt, sống mái với kẻ thù, những khuôn mặt anh tài luôn luôn xuất hiện đứng ra gánh vác trách nhiệm, góp sức đưa con thuyền dân tộc đến bến vinh quang.  Vào cuối thế kỷ thứ II, sau dương lịch, dân tộc ta đang đối đầu với viễn ảnh có thể bị đồng hóa vào nền văn hóa Trung Quốc, th́ một khuôn mặt anh tài đă ra đời, đó là Mâu Tử cùng tác phẩm Lư hoặc Luận nổi tiếng của ông.�

Qua phần II, tác giả tŕnh bày về Khương Tăng Hội - Cuộc Đời và Sự Nghiệp:

... Kể từ ngày Trần Văn Giáp giới thiệu Khương Tăng Hội như một trong những nhà truyền giáo đầu tiên của đạo Phật ở nước ta, những người viết sử về sau đă tiếp tục đánh giá vị trí, vai tṛ cũng như những đóng góp của Khương Tăng Hội đối với lịch sử dân tộc Việt, không hơn không kém là một nhà truyền giáo đầu tiên.  Việc giới thiệu sai lầm này dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, mà một trong những số đó là việc nghiên cứu Khương Tăng Hội đă không được tiến hành nghiêm túc để khám phá những đóng góp của Khương Tăng Hội không những đối với lĩnh vực lịch sử Phật Giáo Việt Nam, mà c̣n với nhiều lănh vực khác nữa, đặc biệt là lĩnh vực lịch sử với truyền thuyết trăm trứng và lịch sử ngôn ngữ tư tưởng và văn học Việt Nam.  Ngày nay, với những thành quả nghiên cứu có được, chúng ta có thể khẳng định Khương Tăng Hội không phải một nhà truyền giáo đầu tiên của Phật Giáo ở Việt Nam, mà là một thành tựu đầu tiên của nền Phật Giáo ấy, để cùng với Mâu Tử h́nh thành một mặt trận văn hóa phản công lại những trận tiến công như vũ băo của nền văn hóa nô dịch Trung Quốc đang xảy ra vào thời đó, và khẳng định sức sống ưu việt của nền văn hóa Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam.�

Mỗi khi đề cập đến Khương Tăng Hội th́ chúng ta không thể không nói đến Lục Độ Tập Kinh.  Đây là tác phẩm nổi tiếng của Ngài.  Qua công tŕnh sưu khảo và nghiên cứu Lục Độ Tập Kinh.  Thầy viết:

... Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành văn thời Hùng Vương c̣n để lại cho đến nay qua một bài Việt Ca duy nhất c̣n đang bàn căi th́ lịch sử văn học và văn hóa Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lư Nam Đế có thể được nghiên cứu qua một loạt những tác giả lớn như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp Minh và Lư Miễu, trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng Hội với Lục Độ Tập Kinh.

Lục Độ Tập Kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ghi lại t́nh tiết 100 trứng của truyền thuyết khởi dân tộc tính.  Lục Độ Tập Kinh cũng là tác phẩm đầu tiên và xưa nhất ngoài bài Việt Ca, c̣n bảo lưu được một số trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt và cung cấp một số lượng đáng kể các tá âm cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ và phục chế lại diện mạo tiếng nói ấy cách đây 2000 năm.  Lục Độ Tập Kinh c̣n là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v...  làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam.  Lục Độ Tập Kinh c̣n là văn bản thiết định những chủ đề tư tưởng lớn của Phật Giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát triển tư duy Phật Giáo Việt Nam, mà thành quả đầu tiên phát hiện cho đến nay là sáu lá thư trao đổi giữa Lư Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh vào khoảng những năm 450.

Lục Độ Tập Kinh v́ thế là một tác phẩm văn học lớn không chỉ của lịch sử Phật Giáo Việt Nam mà c̣n là lịch sử văn học tư tưởng và văn hóa dân tộc.�

Để thấy rơ hơn về nội dung tư tưởng Lục Độ Tập Kinh, đủ nguồn cảm hứng và khả năng truyền tải giá trị cao thượng, xây dựng đời sống dân sinh thăng hoa trên giai tầng tâm linh mà c̣n là bản kinh ḷng, lời kinh ruột của Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh và Bồ Tát nguyện:

... Lục Độ Tập Kinh như nhan đề chỉ ra, là một tập kinh tŕnh bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ Tát, tức bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.  Lư tưởng Bồ Tát trong thời kỳ đầu của Phật Giáo ở nước ta, do thế, đă được xiển dương mạnh mẽ, đề cao những con người có ḷng thương rộng lớn đối với tất cả người vật (bố thí), tự ḿnh kiểm soát lấy ḿnh (tŕ giới), kiên tŕ chịu đựng gian khổ, khó khăn (nhẫn nhục), năng động phấn đấu hoàn thành mục tiêu đă định (tinh tấn), b́nh tĩnh (thiền định) và sáng suốt (trí tuệ).  Mẫu người lư tưởng của Phật Giáo, mẫu người có ḷng thương, có kỷ luật, kiên tŕ, năng động, b́nh tĩnh và sáng suốt, được định h́nh và kế hoạch thể hiện mẫu người này trong cuộc sống được vạch ra thông qua khuôn khổ các câu chuyện tiền thân của Đức Phật, cho các Phật tử Việt Nam thời Khương Tăng Hội và trước đó.

Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển II, Thầy giới thiệu một số tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội như: Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự, An Ban Thủ Ư Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh và sáu lá thư, Lư Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh.

Ngang qua các bản dịch của Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự và An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải...  chúng ta thấy nội dung là những truyện cổ tích dân gian hướng con người trên việc hành thiện, trong nhân nghĩa thuần hậu và ư thức tôn vinh phẩm hạnh con người nhằm xây dựng một đời sống chân hạnh phúc trong cuộc đời này.  Chính những truyện cổ tích này đă mang một nội dung giáo pháp nhân quả, nghiệp báo...:

... Truyện một sự tích dưa hấu thực chất là một thuyết giảng về giáo lư nhân quả �ở hiền gặp lành của Phật Giáo dân gian.  Nó gồm hai đoạn.  Đoạn 1 kể An Tiêm gốc là một nô tỳ, lấy được người con gái nuôi của Vua Hùng, ăn mặc sung sướng, của cải giàu có.  Có người khen, An Tiêm nói đó là vật tiền thân của An Tiêm.  Vua Hùng nổi giận, đày An Tiêm ra đảo.  Đoạn 2 kể, Tiêm ở đảo, nhờ chim đem hạt dưa hấu đến, trở nên giàu có và được gọi về...

Và c̣n rất nhiều những cốt truyện tương tự như vậy được tŕnh bày trong  Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, một cách khuyến tấn con người phải biết ăn ở hiền lành, có thảo có ngay, sống đời đạo đức.

Về mặt Triết học kinh viện của giai tầng tri thức, của bậc thượng căn, thượng trí chúng ta thấy trong An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải lời văn khúc chiết, rành rơi, âm hưởng trùng điệp vang ngân bất tận, khi định nghĩa về tâm, Khương Tăng Hội đă viết:

Tâm Chi dật đảng, vô vi bất hiệp

hoảng hốt phảng phất, xuất nhập vô gián

thị chi vô h́nh, thính chi vô thanh

nghênh chi vô tiền, tầm chi vô hậu

thâm vi diệu tế, h́nh vô ty phát

phạn thích tiên thánh, bất năng chiếu minh

mặc chủng vu thử, hóa sinh hồ bỉ

phi phàm sở đổ, vi chi ấm giả...

 

Đây là bản kinh cốt lơi, làm chuẩn đích cho ai có ḷng nghiên tầm, khảo cứu để hướng tâm trên con đường đạo.  Nhưng đồng thời cũng chú trọng đến các lănh vực như nghệ thuật, âm nhạc, văn học, Phật Giáo, chính trị, tư tưởng....

Qua bộ môn âm nhạc, Thầy viết:

.... Về vấn đề âm nhạc, những đóng góp của sáu lá thư ấy lại càng đặc sắc và quư giá hơn.  Quư giá, bởi v́ chúng là những văn kiện xưa nhất và duy nhất nói đến sự hiện diện một các không chối căi ở nước ta những ca tán tụng vịnh.

Từ đó, cho thấy tối thiểu vào đầu thế kỷ thứ V, âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Phật Giáo Việt Nam gồm những thứ ǵ.  Đặc sắc, bởi v́ nếu phối hợp báo cáo âm nhạc vừa nói với những h́nh ảnh nhạc cụ trên những bệ đá của nền nghệ thuật Tiên Sơn, chúng ta có thể rút ra những kết luận rất lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và lịch sử âm nhạc Phật Giáo Việt Nam, đồng thời giải thích cho thấy, tại sao trên những bệ đá ấy chúng ta chỉ có mười nhạc thần và chín thứ nhạc cụ tấu nhạc, để ca ngợi cúng dường người giác ngộ.

Từ những tư liệu có được của thời gian phôi thai, thuở ban sơ, trên ḍng lịch sử của dân tộc, qua các tác phẩm đă xuất bản, Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát đă công bố một cách minh nhiên và sẽ tiếp tục cống hiến những sưu khảo nhiều hơn nữa để hoàn thành sứ mạng của một Sử gia thời đại.

Công tŕnh khảo cứu ấy, qua Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển III, Thầy đă dănh trọn quyển để in lại tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh, chứng tỏ tác phẩm này đă nói lên vai tṛ vô cùng quan trọng trên lănh vực văn học nước nhà và c̣n mang nhiều sắc thái độc đáo của lịch sử Phật Giáo đời Trần:

... Thiền Uyển Tập Anh có một cống hiến thật đặc sắc, bởi v́ nó là một tác phẩm đời Trần duy nhất c̣n lại, chứa đựng nhiều tên ấp, tên làng, tên quận, tên phủ và tên Châu của đời Lư cũng như đời Trần hơn bất cứ một tác phẩm nào khác, nếu hoàn thành, có thể nói ta đă vẽ lại được một phần bản đồ địa lư chi tiết của nước ta vào thời Lư một cách cụ thể nhờ vào tên các ngôi chùa gắn liền với các tên đất ấy.�

Đó là trên b́nh diện địa lư, c̣n trên lănh vực văn học, Thiền Uyển Tập Anh đă đóng một phận vị có tầm vóc ách yếu trên nền học thuật và thiền học ngang qua tinh thần tu chứng của Chư vị Thiền sư Tổ đức:

... Rơ ràng, đối với lịch sử dân tộc ta, Thiền Uyển Tập Anh đóng một vai tṛ hết sức quan trọng và thiết yếu.  Thiếu nó, th́ cả mấy trăm năm lịch sử văn học dân tộc phai mờ thất tán đi không phải ít....  và vai tṛ ấy, thực tế, có một tầm quan trọng hơn nhiều, khi ta nhớ rằng nó tự bản chất là một bộ sử chuyên môn về Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam.  Mà Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam vào mấy trăm năm ấy, nếu không nói là hệ tư tưởng chiếm ưu thế trong giai đoạn lịch sử đó.�

Một Vạn Hạnh Thiền Sư đă hộ quốc an dân, xây dựng một triều đại vàng son cho dân cho nước, mà tinh thần tu chứng đă thể hiện qua bài kệ:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Tùy vận thạnh suy hưu bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

Người đọc các văn kiện lịch sử, các chứng tích văn học, các nền văn hóa dân tộc và Phật Giáo Việt Nam qua Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam 3 quyển sẽ thấy được sự lịch lăm uyên bác đầy thực nghiệm của một sử gia đương đại, chỉ thu ḿnh trong 3 quyển văn học ấy không thôi cũng đủ để chứng minh cho chúng ta thấy đâu là tri thức không chướng ngại, đâu là tài năng tập thành xuyên suốt thời gian không ngằn mé, và đâu là vượt thắng mọi chướng duyên để kiện toàn nguồn tư tưởng hăn hữu.

Qua bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, bằng cái nh́n tổng thể của một sử gia, Thầy đă phân chia các chặng đường lịch sử không giống các nhà nghiên cứu khác.  Trước tiên bằng nhận định xác thực thế nào là lịch sử? Và cấu trúc lịch sử được vận hành như thế nào qua mỗi thời đại, qua từng lớp người của bối cảnh lịch sử đó:

... Đối với chúng tôi, lịch sử là một vận động có ư thức của con người.  Riêng đối với các tư trào văn hóa như Phật Giáo th́ lịch sử như một cuộc vận động có ư thức lại càng rơ nét hơn.  Lịch sử vận động trên căn bản tương tác của nhiều cấu trúc khác nhau.  Có cấu trúc hạ tầng, có cấu trúc thượng tầng và những cấu trúc hàng ngang, hàng dọc đan xen lẫn nhau, trong đó cấu trúc hạ tầng tất nhiên giữ vai tṛ chủ chốt, nhưng không phải là tuyệt đối.  Xuất phát từ một cái nh́n như thế, quan điểm của chúng tôi là nh́n lịch sử Phật Giáo như một bộ phận của cuộc vận động chung của dân tộc.

Từ nhận định và lập trường trên, Thầy đă chia ḍng lịch sử Phật Giáo Việt Nam 2000 năm thành 5 thời kỳ:

Đó là thời kỳ Phật Giáo quyền năng, thời kỳ Phật Giáo vận động độc lập, thời kỳ Phật Giáo thế sự, thời kỳ Phật Giáo cư trần lạc đạo và thời kỳ Phật Giáo quần chúng...  Mỗi thời kỳ này có một nét đặc trưng nổi bật của nó, mà ngay cả sự đổi thay của các triều đại và sự tồn tại những ḍng Thiền khác nhau không có một ảnh hưởng to lớn nào.  Lịch sử tuy là một vận động có ư thức của con người, nhưng đồng thời cũng có quy luật của nó.  Mà đă nói đến quy luật tức là nói đến tính tất yếu, mà mỗi ư chí của cá nhân không thể cưỡng lại được.

Đọc qua lịch sử Phật Giáo Việt Nam 3 tập dày khoảng 2500 trang, chúng ta thấy hệ thống tư liệu từng niên đại, từng nhân vật, từng cốt truyện được thẩm định rơ nét, chính xác để định vị trí chứng nhân của ḍng lịch sử.  Điều này chúng ta thấy trong phần Pháp Thuận và bài thơ Thần Nước Nam Sông Núi.  Từ trước đến giờ theo tính truyền khẩu được luân lưu qua từng thế hệ, chúng ta cho rằng bài thơ Thần Nước Nam là của Lư Thường Kiệt trong cuộc chiến chống ngoại xâm năm 1076.  Nhưng qua các tư liệu chứng minh thời bấy giờ, bài thơ Thần Nước Nam đó được coi là hiện hữu dưới thời Vua Lê Đại hành, trong cuộc chiến tranh năm 981:

Bài thơ Thần Sông Núi

1.         Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư

            Tiệt nhiên dĩ định tại thiên thư

            Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

            Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.

 

2.         Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư

            Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

            Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

            Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.

 

3.         Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư

            Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư

            Như Kim Bắc lỗ lai xâm phạm

            Hội kiến hải trần tận tảo trừ.

 

4.         Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư

            Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư

            Như Hà Bắc lỗ cảm xâm phạm

            Hội kiến phong trần tận tảo trừ.

 

Qua các luận cứ được thẩm định, để thấy được bài thơ Thần phát xuất từ đâu:

... Theo chúng tôi, ta nên trả bài thơ Thần trên về cho cuộc chiến tranh 981 và chúng ta có đủ dữ kiện để làm như thế.  Đây không phải là một kết luận mới.  Hai bộ sử viết bằng tiếng Việt vào thế kỷ thứ 16 và 17, là Việt Sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục đều thống nhất có cùng một kết luận.  Việt Sử Diễn Âm đă dành một đoạn dài nói về lai lịch của bài thơ này.�

Đến đây, chúng ta thấy Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài là một tác phẩm sưu khảo và tác biên về cuộc đời và sự nghiệp của Toàn Nhật.  Một cách sơ lược về sự nghiệp văn học chúng ta thấy trong phần Tam Giáo Nguyên Lưu Kư, Viên Quang Tự Sa Môn Toàn Nhật Pháp hiệu Quang Đài, Ngài đă thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên qua những vần thơ song thất lục bát:

Thuở trời Xuân say nhuần mầu đạo

Trót nom theo Tam giáo chân tôn

Am mây gởi dấu thong dong

Tu thân ngày tháng sửa ḷng hôm mai

Trải xưa định vị tam tài

Là trời, người, đất muôn loài nổi sinh.�

 

Qua phần Tống Vương truyện đă thể hiện một nhân sinh quan vô cùng an nhiên tích cực, cho thấy Toàn Nhật là một trong những nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt.

Tống Vương truyện đă dệt nên một truyện t́nh thơ mộng của một Thái tử, con vua, với người con gái mộc mạc làng chài lưới miền sông nước:

... Long phi vân hán,

Phụng nhiễu quang minh

Ứng trinh tường xảy gặp điềm lành

Vừng đẩu tú trổ sanh thụy lạ

Có người Giang hạ

Tánh thật ngư ông

Việc vơng la lưới tổ (chài) tôm

Nghề hà hải Giang Tân Sở trú

Kết duyên phu phụ

Hiệp bạn Châu Trần

Vô nam nhi kế tự tôn thân

Sinh nữ tử nối ḍng tổ phụ...

 

Và cuối cùng cái hậu của cốt truyện là Vua cha đi tu, giao ngôi Vua lại cho con:

... Vua đà cao kỷ

Tác lớn trên đầu

Nhượng vị cho con

Sửa sang chính sự

.........

Hồi đầu Phật Tổ

Thế phát tu hành

Con nối ngôi truyền dơi đạo thanh

Muôn đời để lưu danh thiên hạ.

 

Những vần thơ ấy đă đề cao tinh thần dân chủ, tôn trọng tinh thần b́nh đẳng giữa loài người, không phân biệt giai cấp, ngôi vị.  Giá trị ở đây là tư cách đạo đức nhân luân là nền tảng nhân bản được xây dựng trong tâm tư của mỗi con người.  Dù người đó có địa vị, quyền cao, tước trọng nơi triều đ́nh, hay lớp người dân giả b́nh dị vẫn được tôn trọng trong ư niệm hướng thượng.  Từ đó, chúng ta thấy Lục Tổ Truyện Diễn Ca, Toàn Nhật đă hướng dẫn con người trên đường t́m cầu Chân lư và cuối cùng thành đạt đạo quả giác ngộ.  Đó là h́nh ảnh của Lục Tổ Huệ Năng, Người mang đá giă gạo suốt bao năm tháng, nhưng ư vị giác ngộ vẫn miên viễn trường tồn:

... Đêm ngày chuyên niệm Di Đà

Chịu phần giă gạo vậy ḥa tám thu

Bảo làm cho thấy công phu

Vai mang khối đá chuyên tu đến ngày

Phật Tổ khổ hạnh lắm thay

Sáu năm tuyết lănh mới thành Kim thân.

 

Đó là giá trị của sự tu tập, mà bằng cái nh́n của Toàn Nhật lao tác là một thể thức của Thiền định - gánh nước, bửa củi, giă gạo.  Từ tự tướng của chân tay đă thể hiện được tánh giác ngộ, trong sáng nơi tâm thanh tịnh thuần khiết của Phật tánh thường hằng như nhiên bất động

... Ca Sa b́nh bát pháp thiền

Bèn trao phú chúc về miền Thiền Châu

Dặn ḍ y chánh trước sau

Mấy lời Phật Tổ thẳm cao nhiệm mầu

Huệ Năng lễ tạ khấu đầu

Lạy từ Ḥa thượng sẽ hầu lui ra.

 

Bước sang Toàn Tập Minh Châu Hương Hải được sưu khảo và tác thành qua những tư liệu có được.  Thiền Sư là một nhà Văn hóa, Triết gia, Tư tưởng gia của Phật Giáo và dân tộc Việt Nam.  Qua tác phẩm này, chúng ta thấy công tŕnh văn học đồ sộ đă được lưu lại qua các tác dịch phẩm, hoặc chú giải như: Giải Kim Cương Kinh Lư Nghĩa, Giải Di Đà Kinh Sớ Sao, Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ, Sự Lư Dung Thông, Giải Pháp Hoa Kinh, Giải Sa Di Giới Luật, Soạn Quán Vô Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ ...  tất cả trên 20 tác phẩm, gồm 30 quyển.

Là một nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 17, Thiền Sư đă xây dựng một ngữ pháp để giải và dịch Kinh mới mẻ nhất, mà không theo lối cổ dịch của những thế kỷ 15, 16.  Lối dịch này được diễn tả, giải thích Kinh Văn phóng khoáng theo cái nh́n và sự hiểu biết của ḿnh mà không dịch sát chữ, sát nghĩa, cựu dịch.  Do cách dịch thuật sáng tạo này mà Thiền Sư đă thật sự đóng góp một gia tài văn học đồ sộ cho nền lịch sử văn học tiếng Việt.  Một thí dụ điển h́nh qua lối dịch giải đó nơi bài Kệ Kinh Kim Cương:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điển

Ứng tác như thị quán.

 

Hết thảy pháp hữu vi là trên tự thiên địa tạo hóa, dưới đến nhân gian vạn vật, dầu sanh lăo bệnh tử, giàu có sang hèn, sĩ nông công thương, mọi loài sắc vật, dầu nhẫn xanh vàng thâm trắng thô tế thanh trọc, dầu có dầu không, dầu hư dầu thiệt, sâu cạn,  thấp cao, ách thật vọng tâm khởi diệt.  Hết thảy thiện ác muôn pháp cũng là hữu vi vậy...

Tóm lại Toàn tập Minh Châu Hương Hải là một công tŕnh to lớn trong chốn Thiền gia và nhân gian, là một nền văn học, tư tưởng vô giá cho thế hệ hậu sinh, để có cái nh́n, suy tư chín chắn trên diễn đàn văn học của Chư vị Lịch Đại Tổ Sư c̣n lưu truyền đến ngày hôm nay và ngàn sau.

Bằng thực chứng giá trị bề dày lịch sử văn học tư tưởng Phật Giáo và dân tộc Việt Nam xuyên suốt qua tác phẩm Toàn Tập Trần Nhân Tông, một tác phẩm toàn bích, trên hai phạm trù thế gian và xuất thế gian của kẻ sỹ.

Nói đến Vua Trần Nhân Tông là nói đến bậc xuất trần vi thượng sỹ.  Nói đến bị Bồ Tát hóa thân vào đời, ḥa quang đồng trần để độ sinh.  Nhà Vua đă đem tài danh thật đức của ḿnh để an bang tế thế, xây dựng nước nhà thanh b́nh thạnh trị.  Dân tộc được ấm no, quốc gia phú cường để từ đó thăng hoa trong cuộc sống tâm linh là chuyển mê khai ngộ, đổi phàm thành thánh.

Toàn Tập Trần Nhân Tông đă phô bày một cách thật rơ nét qua Vương vị và Thánh vị của nhà Vua.  Là Vương vị, nhà Vua là anh hùng dân tộc đă viết nên ḍng sử oai hùng bảo vệ giang sơn gấm vóc, quét sạch ngoại xâm ra khỏi bờ cơi, xây dựng một nền ḥa b́nh chân chính cho dân cho nước.  Công cuộc bảo vệ giang sơn này, qua chương III và IV, Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh bảo vệ quốc gia dân tộc năm 1285, 1288 qua các trận Nội Bàng, Vạn Kiếp, B́nh Than, Thăng Long, Hàm Tử, Chương Dương, Như Nguyệt...  chúng ta ngưỡng mộ tài thao lược, anh hùng túc trí của nhà vua hy sinh v́ dân v́ nước.  Là Thánh vị nhà Vua đă bỏ ngai vàng điện ngọc để đi tu và thành Tổ Đức.  Nhà Vua là Sơ Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm, một ḍng Thiền thực thụ của Phật Giáo Việt Nam.  Nhà Vua đă đề ra tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo và được coi là cốt lơi, yếu chỉ ḍng Thiền:

�Trần tục mà nên, phú ấy càng yêu hết sức,

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá đồ công.�

Hay là:

�Sạch giới ḷng, dồi giới tướng,

Nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.

Ngay thờ Chúa, thảo thờ Cha,

Đi đổ mới trượng phu trung hiếu.�

 

Và cuối cùng là Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam gồm 2 tập.  Đây là một công tŕnh khảo cứu tập thể của quư Thầy học tăng trong các Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, Quảng Hương Già Lam.  Nhưng phần chủ biên và hoàn thành Từ Điển vẫn là công tŕnh của Thượng Tọa Tuệ Sỹ và Sử Gia Lê Mạnh Thát đồng tác giá.

Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam được có mặt ngày hôm nay, dù rằng chỉ có được 2 tập là A Tập I, từ A đến A Di Đà và A Tập II, từ A Di Đà đến A Di Đà Tự, chưa hoàn tất toàn bộ Từ Điển Phật Học.  Nhưng, rơ thật là một sự nỗ lực vượt bậc để cống hiến cho sự t́m hiểu tra cứu về từ ngữ Phật pháp và cũng nói lên tâm nguyện chí thành của Chư vị Tôn Túc có cái nh́n sâu xa, suốt chặng đường lịch sử văn học Phật Giáo hiện đại.

Bằng việc làm của đàn hậu duệ, bằng khả năng sơ lậu của người học tṛ mang khai, giới thiệu các tác phẩm của Thầy, Sử gia Lê Mạnh Thát, chúng tôi có cảm tưởng như làm công việc vốc muối bỏ biển, đội đá vá trời.  Tuy nhiên khi nghĩ đến công ơn của bậc giáo thọ sư tài bồi huấn dục qua bao năm tháng, nên mạo muội tự nhủ ḿnh trải tấm ḷng thành, ngơ hầu có chút phần nào nghĩ về Thầy trong muôn một.  Do vậy, nên chỉ có đôi lời b́nh dị để nói lên công tŕnh khảo cứu ngàn đời của ḍng lịch sử văn học nước nhà mà Thầy là một sử gia trác việt anh tài, đă cấu trúc thành những chuỗi chứng tích, tư liệu ḍng lịch sử đó.  Trước khung trời kiến văn quảng bác, trí tuệ siêu nhiên của Thầy và những kho tư liệu vô giá của lịch sử văn hóa, chỉ biết ḿnh đang là kẻ ḍ dẫm lần bước.  Ngưỡng mong Thầy từ bi lượng thứ.

Kính mong Chư Tôn Đức, Chư vị thức giả cao minh, rộng ḷng cảm thông, hỷ xả cho những điều thất thố.

Nam Cali, 11 tháng 06, 2005

Nguyên Siêu

SOME EXPERIENCES OF THE PROTECTION
OF THE BUDDHIST CULTURE IN VIETNAM

Prof. Dr. Le Manh That
Viet Nam Buddhist University in Sai Gon city

Since Tran Van Giap published his serious study on Vietnamese Buddhism from the origin to 13th century in 1932*, relying mainly on Thien Uyen Tap Anh, other works on the history of Vietnamese Buddhism usually complained on the scarcity of the materials relating to that subject on the part of Viet Nam. This is quite understandable, if we only look into those books catalogues on Buddhism in the olden days of Vietnam like those of Le Quy Don and Phan Huy Chu as well as the 20th century study on bibliography of Viet Nam**. So, the task of any researchers on Vietnamese Buddhism and culture is to try finding out if there exist any new materials written by Vietnamese Buddhist authors which are still extant. This is what I have done when I embarked upon studying of Vietnamese Buddhism. In the September of 1974, just coming back from the United States, I started out on a field trip to Central Vietnam from Quang Tri to Binh Thuan and focused on to two areas which are likely to have those kinds of materials, i.e. Hue and Binh Dinh-Phu Yen.

Through that trip, the result is quite encouraging. At least, nearly forty authors have been discovered with approximately hundreds of manuscripts and books found the first time known to us. The way of how we go about finding out those works and manuscripts is quite interesting and neccessary. First of all, we went to those temples which are known to be the places where famous zen masters have been living. Some of them did give us precious manuscripts and works, but some did not. Instead, in some temples located in the far-away rural areas, we unexpectedly discovered some old printed copies and manuscripts. Secondly, we came to those families famous for their role played in the history of Vietnam. The same case occurred. Some did possess new materials and others did not.

After collecting those manuscripts and printed works, we brought them back to Van Hanh University and carried out textual studies for determining the authorship as well as the authenticity of the materials in order to multiply them through publication. Among the authors discovered, up to present day, we have published 7 of them, i.e., Kim Son (1976), Tran Thai Tong (2004), Tran Nhan Tong (2001), Minh Chau Huong Hai (1982), Chan Nguyen Tue Dang (1977-1980), Toan Nhat Quang Dai (1978), Minh Chau Huong Hai (1982), Phap Lien (1982), Tran Nhan Tong (2001), Tran Thai Tong (2004) and Chan Dao Chinh Chanh Thong (2004) with 45 works known for the first time to the scholarly world. Others will be published soon.

In order to further research works in other scientific field than Buddhist studies, since the year 2000, Vietnam Buddhist University was launched a project publishing a series entitled General Collection complete works of Vietnamese Buddhist Literary Works so that it can provide materials to students of literature, history, humanities and thought in Vietnam with high degree of accuracy and authenticity. This project up to present time already gives out three volumes I (2000), II (2001), III (2002) which cover materials up to the XIIth century. Others volumes will come out soon. So, those are some experiences of our works in protecting the Buddhist cultural heritage of Vietnam in relation to manuscripts and old printed works, using Chinese and demotic characters.

From these experiences, we are thinking about broadening the area of investigation. We know that a lot of Buddhist materials in Cambodia have been destroyed during Pol Pot Yang Ieng Sary regime and when the Royal Government of Cambodia has been established, they went to Vietnam, discussed with the Vietnamese Government and asked the Vietnamese Government to help in recovering those Buddhist materials of Cambodia which still exist in Vietnamese Buddhist Khmer temples. They did find a number of these materials existing in these temples which they are planning to publish in the near future. This is a case of protecting the Buddhist cultural heritage in Cambodia on a regional scale.

Beside Vietnam and Cambodia, Buddhism is still a living part of the cultural life in many other South East Asia n countries such as Laos, Thailand, Myanmar, Malaysia, Singapore and Indonesia. Therefore, in any Buddhist strategy for world peace and sustainable development, we think culture plays an important role in contributing to the realization of the mutual understanding between different peoples of different social, ethnic and economic backgrounds. But when talking about the culture of any country, the first thing we think of is her old printed books and manuscripts. That is why the need of protecting the Buddhist cultural heritage in those countries in form of old printed books and manuscripts are quite a prominent and pressing issue. We believe that like in the case of Vietnam and Cambodia, these countries in South East Asia may still possess materials related to Buddhism which are still scattered around and which are in need to be surveyed and collected so that the study of Buddhism and other cultural and historical subjects in these countries could be carried out with fruitful results.

In order to undertake this kind of work, we propose that the UNESCO can lend a helping hand by establishing, organizing and financing a regional committee of investigation on Buddhist legacy in South East Asia. We trust that such a committee would make a great contribution to the protection of Buddhist cultural heritage by finding out and cataloguing Buddhist materials which still exist in the form of manuscripts and old printed books and remain unknown to us up to this moment, so that the preservation works can be carried out appropriately an d scientifically.

This kind of work can not only recover the materials which might be thought to be lost forever and make them available to national and international researchers on the subject of Buddhism and other related areas such as history, culture literature, linguistics , etc… of the country in concern, but also create conditions for them to last longer and have bigger public interest which otherwise would be having shorter life and limited circulation. So, we earnestly hope that the UNESCO and the governments of South East Asian countries through their higher learning institutions would be in close cooperation with each other in order that such a project could come to life soon.

T.T Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

 

 

 

1)Sử Gia/Toán Học/Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát

2)Thi Sĩ/Thiền Sư/Học Giả/Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ

3)Cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hải

4)Thầy Thích Tâm Thiện

5)Ni Su Nhu Thuy

 



 

Unicode - VNI - VPS - VIQR

 

 

Đừng làm các điều ác,

Hăy làm các điều lành

Giữ tâm ư trong sạch

Đó là lời Phật dạy

Kinh Pháp Cú

 

 

Welcome to THAO LUAN PHAT PHAP ONLINE!

 

Copyright 2005 www.thaoluanphatphap.net . All Rights Reserved.

Email To WebMaster: DươngTiêu