|
.

Ta Cứ Tưởng Trần Gian Là Cơi Thật
Thế
Cho Nên Tất Bật Đến Bây Giờ !
Ta Cứ Ngỡ Xuống Trần Chơi Một Chốc
Nào
Ngờ Đâu Ở Măi Đến Hôm Nay !
Cố Hoà Thượng Thích Huyền Vi
DươngTiêu và T.T Thích Giác Đẵng

DươngTiêu anh PhongTrần và T.T Thích Viên Lư
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
CÁC CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU SỬ HỌC
CỦA SỬ GIA - NHÀ TOÁN HỌC
THƯỢNG TỌA THÍCH TRÍ SIÊU LÊ MẠNH THÁT

|
Penalty :
Police surveillance, past imprisonment
Location :
Thien
Vien Van
Hanh, Q
Phu
Nhuan, TP
HCM,
Viet Nam
(Van Hanh
Zen Center, District
Phu
Nhuan,
HCM City,
Vietnam)
Telephone :
N/A |
|
Born Le
Manh That on
April
15, 1944
in Quang Tri province, Reverend
Thich Tri
Sieu went into the monkhood
at the age of 12.
He
studied in
Vietnam
and abroad, receiving a Ph.D. in Buddhist studies and
philosophy in May 1974 from the
University
of
Wisconsin.
In
Vietnam,
he was a professor at the Van Hanh
University and coeditor of the Encyclopedia of Vietnamese
Buddhism (with Ven.
Thich Tue
Sy).
On
April 2,
1984,
he was arrested with other Buddhist monks and followers at
Gia
Lam
Temple
in
Saigon.
He was detained for four years without trial in Chi
Hoa prison. On
September 30, 1988,
Rev. Thich Tri
Sieu, a member of the Unified
Buddhist Church of Vietnam (UBCV), was brought to trial for
“plotting to overthrow the People's Government” and given a
death sentence.
On
November
15, 1988,
following international protest, the Supreme People’s Court
of Vietnam commuted the sentence of Rev.
Thich Tri
Sieu to 20 years imprisonment. He was imprisoned at
Prison Camp Z230A, Dong Nai
province, along with many other political prisoners.
On
August
31, 1998,
Rev. Thich Tri
Sieu was released from prison.
He told a human rights organization (the International
Buddhist Information Bureau): “In the New Economic Zone near
my prison, on a stretch of desolate waste-land, the local
people set up a make-shift Pagoda commonly known as the
‘Tin-roof Pagoda’ so they could study and practice Buddhism.
This is a simple act, but it shows how deeply Buddhism has
impregnated the common people in
Viet Nam...Before
I was arrested, I was writing a book on the history of
Vietnamese Buddhism from its origins until today. I had
written up to the rule of King Ly Nam De (IV Century AD).
Then I was arrested, so I had to stop. But I am ready to
finish it now.”
Rev.
Thich Tri
Sieu, who had been under intermittent house arrest at
the Van Hanh Zen Center in
Ho Chi
Minh City,
is currently under police surveillance.
Nh́n tổng quát công tŕnh nghiên tầm,
khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm
qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết
học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một
thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt,
một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua
nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để
lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn
xác trên ḍng sử mệnh quê hương.
Là đóa hoa ưu tú, tinh ba của dân
tộc, là bậc kiệt xuất anh tài của Phật Giáo Việt Nam, sử gia
Lê Mạnh Thát đă khai quật những nguồn tài liệu vô cùng quư
giá mà suốt một ḍng thời gian hơn 2000 năm qua bị tản thất,
vùi dập trong sự lăng quên. Thầy đă khám phá những chứng
tích lịch sử mà từ trước đến nay chưa được thấy trên diễn
đàn văn học nước nhà. Từ đó Thầy đă cống hiến những tác
phẩm dày công sưu khảo, đầy giá trị sử học vào kho tàng Văn
Hóa Phật Giáo Việt Nam ngày thêm phong phú và đa dạng. Chúng
tôi kính giới thiệu đến quư vị một số tác phẩm như sau:
1. Lịch Sử Phật Giáo Việt
Nam - 3 tập.
2. Tổng Tập Văn Học Phật
Giáo Việt Nam - 3 tập.
3. Toàn Tập Minh Châu Hương
Hải.
4. Toàn Tập Trần Thái Tông.
5. Toàn Tập Trần Nhân Tông.
6. Toàn Tập Toàn Nhật Quang
Đài.
7. Nghiên Cứu Về Mâu Tử - 2
tập.
8. Chân Đạo Chánh Thống.
9. Lịch Sử Âm Nhạc Phật Giáo
Việt Nam.
10. Tự Điển Bách Khoa Phật
Giáo Việt Nam - 2 tập.
11. The Philosophy of
Vasubandhu.
12. Ngữ Pháp Tiếng Phạn
Từ những tác phẩm trên, và qua lời
tựa của tác phẩm Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, đă tạo
nên những cảm xúc thâm trầm cho thấy Phật Giáo Việt Nam và
dân tộc Việt Nam đă ḥa quyện với nhau kể từ khi Phật Giáo
được truyền vào quê hương Việt Nam cho đến ngày hôm nay.
Suốt một ḍng lịch sử hơn 2000 năm qua, Phật Giáo đă ḥa
ḿnh theo vận nước, đă thăng trầm theo thời cuộc. Chưa có
một thời gian nào, một triều đại nào mà Phật Giáo tách khỏi
dân tộc, không cùng chung vai gánh vác sơn hà xă tắc qua
những cơn nguy biến.
Trong chiều dài lịch sử đó, Chư vị
Thiền Sư, quư Phật tử đă thực sự đem tài ba lỗi lạc của
ḿnh, đem trí năo tâm linh để tài bồi xây dựng cho kho tàng
văn hóa nước nhà có được những tư liệu đồ sộ, giá trị quư
báu.
Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay,
công tŕnh khảo cứu vẫn chưa hoàn tất trong nguồn tư liệu có
được. Chúng ta phải dày công nghiên cứu và đóng góp nhiều
hơn nữa để khai triển và hệ thống hóa một cách nghiêm túc
trên nền tảng các chứng tích, tư liệu đó. Chúng ta cần gia
công bảo tŕ và phát triển nền văn hóa dân tộc ngày thêm lớn
mạnh, nhằm góp phần xây dựng đời sống văn minh tiến bộ và
thánh thiện cho con người hôm nay và mai sau.
Qua lời đầu sách đă cho chúng ta một
ư thức rằng kho tàng tri thức của các Thiền sư và Phật tử
c̣n tàng trữ quá nhiều ở các ngôi cổ tự, đại ṭng lâm. Dưới
những mái chùa mà thời gian đă hóa thành rêu phong phủ kín
đă lưu xuất những bông hoa trí tuệ để cống hiến cho nền Văn
hóa đặc thù của dân tộc quê hương.
Nội dung của Tổng Tập Văn Học Phật
Giáo Việt Nam quyển I khảo cứu về Mâu Tử, Lư hoặc Luận và
Khương Tăng Hội.
Lời dẫn về Lư hoặc Luận:
... Trong cuộc đấu tranh và phát
triển đầy cam go gian khổ, nhưng cũng đầy hào hùng hoành
tráng của dân tộc, mỗi khi lịch sử bước vào những giây phút
thử thách gay gắt quyết liệt, sống mái với kẻ thù, những
khuôn mặt anh tài luôn luôn xuất hiện đứng ra gánh vác trách
nhiệm, góp sức đưa con thuyền dân tộc đến bến vinh quang.
Vào cuối thế kỷ thứ II, sau dương lịch, dân tộc ta đang đối
đầu với viễn ảnh có thể bị đồng hóa vào nền văn hóa Trung
Quốc, th́ một khuôn mặt anh tài đă ra đời, đó là Mâu Tử cùng
tác phẩm Lư hoặc Luận nổi tiếng của ông.�
Qua phần II, tác giả tŕnh bày về
Khương Tăng Hội - Cuộc Đời và Sự Nghiệp:
... Kể từ ngày Trần Văn Giáp giới
thiệu Khương Tăng Hội như một trong những nhà truyền giáo
đầu tiên của đạo Phật ở nước ta, những người viết sử về sau
đă tiếp tục đánh giá vị trí, vai tṛ cũng như những đóng góp
của Khương Tăng Hội đối với lịch sử dân tộc Việt, không hơn
không kém là một nhà truyền giáo đầu tiên. Việc giới thiệu
sai lầm này dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, mà một trong
những số đó là việc nghiên cứu Khương Tăng Hội đă không được
tiến hành nghiêm túc để khám phá những đóng góp của Khương
Tăng Hội không những đối với lĩnh vực lịch sử Phật Giáo Việt
Nam, mà c̣n với nhiều lănh vực khác nữa, đặc biệt là lĩnh
vực lịch sử với truyền thuyết trăm trứng và lịch sử ngôn ngữ
tư tưởng và văn học Việt Nam. Ngày nay, với những thành quả
nghiên cứu có được, chúng ta có thể khẳng định Khương Tăng
Hội không phải một nhà truyền giáo đầu tiên của Phật Giáo ở
Việt Nam, mà là một thành tựu đầu tiên của nền Phật Giáo ấy,
để cùng với Mâu Tử h́nh thành một mặt trận văn hóa phản công
lại những trận tiến công như vũ băo của nền văn hóa nô dịch
Trung Quốc đang xảy ra vào thời đó, và khẳng định sức sống
ưu việt của nền văn hóa Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam.�
Mỗi khi đề cập đến Khương Tăng Hội
th́ chúng ta không thể không nói đến Lục Độ Tập Kinh. Đây
là tác phẩm nổi tiếng của Ngài. Qua công tŕnh sưu khảo và
nghiên cứu Lục Độ Tập Kinh. Thầy viết:
... Nếu lịch sử văn học và văn hóa
thành văn thời Hùng Vương c̣n để lại cho đến nay qua một bài
Việt Ca duy nhất c̣n đang bàn căi th́ lịch sử văn học và văn
hóa Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lư Nam Đế có thể
được nghiên cứu qua một loạt những tác giả lớn như Mâu Tử,
Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp Minh và Lư Miễu,
trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng Hội với Lục Độ Tập
Kinh.
Lục Độ Tập Kinh là văn bản đầu tiên
và xưa nhất ghi lại t́nh tiết 100 trứng của truyền thuyết
khởi dân tộc tính. Lục Độ Tập Kinh cũng là tác phẩm đầu
tiên và xưa nhất ngoài bài Việt Ca, c̣n bảo lưu được một số
trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng
Việt và cung cấp một số lượng đáng kể các tá âm cho việc
nghiên cứu tiếng Việt cổ và phục chế lại diện mạo tiếng nói
ấy cách đây 2000 năm. Lục Độ Tập Kinh c̣n là nơi tập đại
thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa,
trung hiếu, đất nước, mất nước v.v... làm cột sống cho chủ
nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam.
Lục Độ Tập Kinh c̣n là văn bản thiết định những chủ đề tư
tưởng lớn của Phật Giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát
triển tư duy Phật Giáo Việt Nam, mà thành quả đầu tiên phát
hiện cho đến nay là sáu lá thư trao đổi giữa Lư Miễu, Đạo
Cao và Pháp Minh vào khoảng những năm 450.
Lục Độ Tập Kinh v́ thế là một tác
phẩm văn học lớn không chỉ của lịch sử Phật Giáo Việt Nam mà
c̣n là lịch sử văn học tư tưởng và văn hóa dân tộc.�
Để thấy rơ hơn về nội dung tư tưởng
Lục Độ Tập Kinh, đủ nguồn cảm hứng và khả năng truyền tải
giá trị cao thượng, xây dựng đời sống dân sinh thăng hoa
trên giai tầng tâm linh mà c̣n là bản kinh ḷng, lời kinh
ruột của Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh và Bồ Tát nguyện:
... Lục Độ Tập Kinh như nhan đề chỉ
ra, là một tập kinh tŕnh bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ Tát,
tức bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ. Lư tưởng Bồ Tát trong thời kỳ đầu của Phật Giáo ở nước
ta, do thế, đă được xiển dương mạnh mẽ, đề cao những con
người có ḷng thương rộng lớn đối với tất cả người vật (bố
thí), tự ḿnh kiểm soát lấy ḿnh (tŕ giới), kiên tŕ chịu
đựng gian khổ, khó khăn (nhẫn nhục), năng động phấn đấu hoàn
thành mục tiêu đă định (tinh tấn), b́nh tĩnh (thiền định) và
sáng suốt (trí tuệ). Mẫu người lư tưởng của Phật Giáo, mẫu
người có ḷng thương, có kỷ luật, kiên tŕ, năng động, b́nh
tĩnh và sáng suốt, được định h́nh và kế hoạch thể hiện mẫu
người này trong cuộc sống được vạch ra thông qua khuôn khổ
các câu chuyện tiền thân của Đức Phật, cho các Phật tử Việt
Nam thời Khương Tăng Hội và trước đó.
Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam
quyển II, Thầy giới thiệu một số tác dịch phẩm của Khương
Tăng Hội như: Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự, An Ban
Thủ Ư Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh và sáu lá thư, Lư Miễu, Đạo Cao
và Pháp Minh.
Ngang qua các bản dịch của Cựu Tạp
Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự và An Ban Thủ Ư Kinh Chú
Giải... chúng ta thấy nội dung là những truyện cổ tích dân
gian hướng con người trên việc hành thiện, trong nhân nghĩa
thuần hậu và ư thức tôn vinh phẩm hạnh con người nhằm xây
dựng một đời sống chân hạnh phúc trong cuộc đời này. Chính
những truyện cổ tích này đă mang một nội dung giáo pháp nhân
quả, nghiệp báo...:
... Truyện một sự tích dưa hấu thực
chất là một thuyết giảng về giáo lư nhân quả �ở hiền gặp
lành của Phật Giáo dân gian. Nó gồm hai đoạn. Đoạn 1 kể An
Tiêm gốc là một nô tỳ, lấy được người con gái nuôi của Vua
Hùng, ăn mặc sung sướng, của cải giàu có. Có người khen, An
Tiêm nói đó là vật tiền thân của An Tiêm. Vua Hùng nổi
giận, đày An Tiêm ra đảo. Đoạn 2 kể, Tiêm ở đảo, nhờ chim
đem hạt dưa hấu đến, trở nên giàu có và được gọi về...
Và c̣n rất nhiều những cốt truyện
tương tự như vậy được tŕnh bày trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh,
một cách khuyến tấn con người phải biết ăn ở hiền lành, có
thảo có ngay, sống đời đạo đức.
Về mặt Triết học kinh viện của giai
tầng tri thức, của bậc thượng căn, thượng trí chúng ta thấy
trong An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải lời văn khúc chiết, rành
rơi, âm hưởng trùng điệp vang ngân bất tận, khi định nghĩa
về tâm, Khương Tăng Hội đă viết:
Tâm Chi dật đảng, vô vi bất hiệp
hoảng hốt phảng phất, xuất nhập vô
gián
thị chi vô h́nh, thính chi vô thanh
nghênh chi vô tiền, tầm chi vô hậu
thâm vi diệu tế, h́nh vô ty phát
phạn thích tiên thánh, bất năng
chiếu minh
mặc chủng vu thử, hóa sinh hồ bỉ
phi phàm sở đổ, vi chi ấm giả...
Đây là bản kinh cốt lơi, làm chuẩn
đích cho ai có ḷng nghiên tầm, khảo cứu để hướng tâm trên
con đường đạo. Nhưng đồng thời cũng chú trọng đến các lănh
vực như nghệ thuật, âm nhạc, văn học, Phật Giáo, chính trị,
tư tưởng....
Qua bộ môn âm nhạc, Thầy viết:
.... Về vấn đề âm nhạc, những đóng
góp của sáu lá thư ấy lại càng đặc sắc và quư giá hơn. Quư
giá, bởi v́ chúng là những văn kiện xưa nhất và duy nhất nói
đến sự hiện diện một các không chối căi ở nước ta những ca
tán tụng vịnh.
Từ đó, cho thấy tối thiểu vào đầu
thế kỷ thứ V, âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Phật Giáo Việt Nam
gồm những thứ ǵ. Đặc sắc, bởi v́ nếu phối hợp báo cáo âm
nhạc vừa nói với những h́nh ảnh nhạc cụ trên những bệ đá của
nền nghệ thuật Tiên Sơn, chúng ta có thể rút ra những kết
luận rất lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và lịch sử âm
nhạc Phật Giáo Việt Nam, đồng thời giải thích cho thấy, tại
sao trên những bệ đá ấy chúng ta chỉ có mười nhạc thần và
chín thứ nhạc cụ tấu nhạc, để ca ngợi cúng dường người giác
ngộ.
Từ những tư liệu có được của thời
gian phôi thai, thuở ban sơ, trên ḍng lịch sử của dân tộc,
qua các tác phẩm đă xuất bản, Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát đă
công bố một cách minh nhiên và sẽ tiếp tục cống hiến những
sưu khảo nhiều hơn nữa để hoàn thành sứ mạng của một Sử gia
thời đại.
Công tŕnh khảo cứu ấy, qua Tổng Tập
Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển III, Thầy đă dănh trọn
quyển để in lại tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh, chứng tỏ tác
phẩm này đă nói lên vai tṛ vô cùng quan trọng trên lănh vực
văn học nước nhà và c̣n mang nhiều sắc thái độc đáo của lịch
sử Phật Giáo đời Trần:
... Thiền Uyển Tập Anh có một cống
hiến thật đặc sắc, bởi v́ nó là một tác phẩm đời Trần duy
nhất c̣n lại, chứa đựng nhiều tên ấp, tên làng, tên quận,
tên phủ và tên Châu của đời Lư cũng như đời Trần hơn bất cứ
một tác phẩm nào khác, nếu hoàn thành, có thể nói ta đă vẽ
lại được một phần bản đồ địa lư chi tiết của nước ta vào
thời Lư một cách cụ thể nhờ vào tên các ngôi chùa gắn liền
với các tên đất ấy.�
Đó là trên b́nh diện địa lư, c̣n
trên lănh vực văn học, Thiền Uyển Tập Anh đă đóng một phận
vị có tầm vóc ách yếu trên nền học thuật và thiền học ngang
qua tinh thần tu chứng của Chư vị Thiền sư Tổ đức:
... Rơ ràng, đối với lịch sử dân tộc
ta, Thiền Uyển Tập Anh đóng một vai tṛ hết sức quan trọng
và thiết yếu. Thiếu nó, th́ cả mấy trăm năm lịch sử văn học
dân tộc phai mờ thất tán đi không phải ít.... và vai tṛ
ấy, thực tế, có một tầm quan trọng hơn nhiều, khi ta nhớ
rằng nó tự bản chất là một bộ sử chuyên môn về Phật Giáo
Thiền Tông Việt Nam. Mà Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam vào
mấy trăm năm ấy, nếu không nói là hệ tư tưởng chiếm ưu thế
trong giai đoạn lịch sử đó.�
Một Vạn Hạnh Thiền Sư đă hộ quốc an
dân, xây dựng một triều đại vàng son cho dân cho nước, mà
tinh thần tu chứng đă thể hiện qua bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Tùy vận thạnh suy hưu bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Người đọc các văn kiện lịch sử, các
chứng tích văn học, các nền văn hóa dân tộc và Phật Giáo
Việt Nam qua Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam 3 quyển sẽ
thấy được sự lịch lăm uyên bác đầy thực nghiệm của một sử
gia đương đại, chỉ thu ḿnh trong 3 quyển văn học ấy không
thôi cũng đủ để chứng minh cho chúng ta thấy đâu là tri thức
không chướng ngại, đâu là tài năng tập thành xuyên suốt thời
gian không ngằn mé, và đâu là vượt thắng mọi chướng duyên để
kiện toàn nguồn tư tưởng hăn hữu.
Qua bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam,
bằng cái nh́n tổng thể của một sử gia, Thầy đă phân chia các
chặng đường lịch sử không giống các nhà nghiên cứu khác.
Trước tiên bằng nhận định xác thực thế nào là lịch sử? Và
cấu trúc lịch sử được vận hành như thế nào qua mỗi thời đại,
qua từng lớp người của bối cảnh lịch sử đó:
... Đối với chúng tôi, lịch sử là
một vận động có ư thức của con người. Riêng đối với các tư
trào văn hóa như Phật Giáo th́ lịch sử như một cuộc vận động
có ư thức lại càng rơ nét hơn. Lịch sử vận động trên căn
bản tương tác của nhiều cấu trúc khác nhau. Có cấu trúc hạ
tầng, có cấu trúc thượng tầng và những cấu trúc hàng ngang,
hàng dọc đan xen lẫn nhau, trong đó cấu trúc hạ tầng tất
nhiên giữ vai tṛ chủ chốt, nhưng không phải là tuyệt đối.
Xuất phát từ một cái nh́n như thế, quan điểm của chúng tôi
là nh́n lịch sử Phật Giáo như một bộ phận của cuộc vận động
chung của dân tộc.
Từ nhận định và lập trường trên,
Thầy đă chia ḍng lịch sử Phật Giáo Việt Nam 2000 năm thành
5 thời kỳ:
Đó là thời kỳ Phật Giáo quyền năng,
thời kỳ Phật Giáo vận động độc lập, thời kỳ Phật Giáo thế
sự, thời kỳ Phật Giáo cư trần lạc đạo và thời kỳ Phật Giáo
quần chúng... Mỗi thời kỳ này có một nét đặc trưng nổi bật
của nó, mà ngay cả sự đổi thay của các triều đại và sự tồn
tại những ḍng Thiền khác nhau không có một ảnh hưởng to lớn
nào. Lịch sử tuy là một vận động có ư thức của con người,
nhưng đồng thời cũng có quy luật của nó. Mà đă nói đến quy
luật tức là nói đến tính tất yếu, mà mỗi ư chí của cá nhân
không thể cưỡng lại được.
Đọc qua lịch sử Phật Giáo Việt Nam 3
tập dày khoảng 2500 trang, chúng ta thấy hệ thống tư liệu
từng niên đại, từng nhân vật, từng cốt truyện được thẩm định
rơ nét, chính xác để định vị trí chứng nhân của ḍng lịch
sử. Điều này chúng ta thấy trong phần Pháp Thuận và bài thơ
Thần Nước Nam Sông Núi. Từ trước đến giờ theo tính truyền
khẩu được luân lưu qua từng thế hệ, chúng ta cho rằng bài
thơ Thần Nước Nam là của Lư Thường Kiệt trong cuộc chiến
chống ngoại xâm năm 1076. Nhưng qua các tư liệu chứng minh
thời bấy giờ, bài thơ Thần Nước Nam đó được coi là hiện hữu
dưới thời Vua Lê Đại hành, trong cuộc chiến tranh năm 981:
Bài thơ Thần Sông Núi
1. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên dĩ định tại
thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm
phạm
Nhử đẳng hành khan thủ
bại hư.
2. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại
thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm
phạm
Nhử đẳng hành khan thủ
bại hư.
3. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại
thiên thư
Như Kim Bắc lỗ lai xâm
phạm
Hội kiến hải trần tận
tảo trừ.
4. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại
thiên thư
Như Hà Bắc lỗ cảm xâm
phạm
Hội kiến phong trần tận
tảo trừ.
Qua các luận cứ được thẩm định, để
thấy được bài thơ Thần phát xuất từ đâu:
... Theo chúng tôi, ta nên trả bài
thơ Thần trên về cho cuộc chiến tranh 981 và chúng ta có đủ
dữ kiện để làm như thế. Đây không phải là một kết luận
mới. Hai bộ sử viết bằng tiếng Việt vào thế kỷ thứ 16 và
17, là Việt Sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục đều thống nhất
có cùng một kết luận. Việt Sử Diễn Âm đă dành một đoạn dài
nói về lai lịch của bài thơ này.�
Đến đây, chúng ta thấy Toàn Tập Toàn
Nhật Quang Đài là một tác phẩm sưu khảo và tác biên về cuộc
đời và sự nghiệp của Toàn Nhật. Một cách sơ lược về sự
nghiệp văn học chúng ta thấy trong phần Tam Giáo Nguyên Lưu
Kư, Viên Quang Tự Sa Môn Toàn Nhật Pháp hiệu Quang Đài, Ngài
đă thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên qua những vần thơ
song thất lục bát:
Thuở trời Xuân say nhuần mầu đạo
Trót nom theo Tam giáo chân tôn
Am mây gởi dấu thong dong
Tu thân ngày tháng sửa ḷng hôm mai
Trải xưa định vị tam tài
Là trời, người, đất muôn loài nổi
sinh.�
Qua phần Tống Vương truyện đă thể
hiện một nhân sinh quan vô cùng an nhiên tích cực, cho thấy
Toàn Nhật là một trong những nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng
lớn của dân tộc Việt.
Tống Vương truyện đă dệt nên một
truyện t́nh thơ mộng của một Thái tử, con vua, với người con
gái mộc mạc làng chài lưới miền sông nước:
... Long phi vân hán,
Phụng nhiễu quang minh
Ứng trinh tường xảy gặp điềm lành
Vừng đẩu tú trổ sanh thụy lạ
Có người Giang hạ
Tánh thật ngư ông
Việc vơng la lưới tổ (chài) tôm
Nghề hà hải Giang Tân Sở trú
Kết duyên phu phụ
Hiệp bạn Châu Trần
Vô nam nhi kế tự tôn thân
Sinh nữ tử nối ḍng tổ phụ...
Và cuối cùng cái hậu của cốt truyện
là Vua cha đi tu, giao ngôi Vua lại cho con:
... Vua đà cao kỷ
Tác lớn trên đầu
Nhượng vị cho con
Sửa sang chính sự
.........
Hồi đầu Phật Tổ
Thế phát tu hành
Con nối ngôi truyền dơi đạo thanh
Muôn đời để lưu danh thiên hạ.
Những vần thơ ấy đă đề cao tinh thần
dân chủ, tôn trọng tinh thần b́nh đẳng giữa loài người,
không phân biệt giai cấp, ngôi vị. Giá trị ở đây là tư cách
đạo đức nhân luân là nền tảng nhân bản được xây dựng trong
tâm tư của mỗi con người. Dù người đó có địa vị, quyền cao,
tước trọng nơi triều đ́nh, hay lớp người dân giả b́nh dị vẫn
được tôn trọng trong ư niệm hướng thượng. Từ đó, chúng ta
thấy Lục Tổ Truyện Diễn Ca, Toàn Nhật đă hướng dẫn con người
trên đường t́m cầu Chân lư và cuối cùng thành đạt đạo quả
giác ngộ. Đó là h́nh ảnh của Lục Tổ Huệ Năng, Người mang đá
giă gạo suốt bao năm tháng, nhưng ư vị giác ngộ vẫn miên
viễn trường tồn:
... Đêm ngày chuyên niệm Di Đà
Chịu phần giă gạo vậy ḥa tám thu
Bảo làm cho thấy công phu
Vai mang khối đá chuyên tu đến ngày
Phật Tổ khổ hạnh lắm thay
Sáu năm tuyết lănh mới thành Kim
thân.
Đó là giá trị của sự tu tập, mà bằng
cái nh́n của Toàn Nhật lao tác là một thể thức của Thiền
định - gánh nước, bửa củi, giă gạo. Từ tự tướng của chân
tay đă thể hiện được tánh giác ngộ, trong sáng nơi tâm thanh
tịnh thuần khiết của Phật tánh thường hằng như nhiên bất
động
... Ca Sa b́nh bát pháp thiền
Bèn trao phú chúc về miền Thiền Châu
Dặn ḍ y chánh trước sau
Mấy lời Phật Tổ thẳm cao nhiệm mầu
Huệ Năng lễ tạ khấu đầu
Lạy từ Ḥa thượng sẽ hầu lui ra.
Bước sang Toàn Tập Minh Châu Hương
Hải được sưu khảo và tác thành qua những tư liệu có được.
Thiền Sư là một nhà Văn hóa, Triết gia, Tư tưởng gia của
Phật Giáo và dân tộc Việt Nam. Qua tác phẩm này, chúng ta
thấy công tŕnh văn học đồ sộ đă được lưu lại qua các tác
dịch phẩm, hoặc chú giải như: Giải Kim Cương Kinh Lư Nghĩa,
Giải Di Đà Kinh Sớ Sao, Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ, Sự Lư Dung
Thông, Giải Pháp Hoa Kinh, Giải Sa Di Giới Luật, Soạn Quán
Vô Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ ... tất cả trên 20 tác phẩm, gồm
30 quyển.
Là một nhà tư tưởng lớn của thế kỷ
17, Thiền Sư đă xây dựng một ngữ pháp để giải và dịch Kinh
mới mẻ nhất, mà không theo lối cổ dịch của những thế kỷ 15,
16. Lối dịch này được diễn tả, giải thích Kinh Văn phóng
khoáng theo cái nh́n và sự hiểu biết của ḿnh mà không dịch
sát chữ, sát nghĩa, cựu dịch. Do cách dịch thuật sáng tạo
này mà Thiền Sư đă thật sự đóng góp một gia tài văn học đồ
sộ cho nền lịch sử văn học tiếng Việt. Một thí dụ điển h́nh
qua lối dịch giải đó nơi bài Kệ Kinh Kim Cương:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ứng tác như thị quán.
Hết thảy pháp hữu vi là trên tự
thiên địa tạo hóa, dưới đến nhân gian vạn vật, dầu sanh lăo
bệnh tử, giàu có sang hèn, sĩ nông công thương, mọi loài sắc
vật, dầu nhẫn xanh vàng thâm trắng thô tế thanh trọc, dầu có
dầu không, dầu hư dầu thiệt, sâu cạn, thấp cao, ách thật
vọng tâm khởi diệt. Hết thảy thiện ác muôn pháp cũng là hữu
vi vậy...
Tóm lại Toàn tập Minh Châu Hương Hải
là một công tŕnh to lớn trong chốn Thiền gia và nhân gian,
là một nền văn học, tư tưởng vô giá cho thế hệ hậu sinh, để
có cái nh́n, suy tư chín chắn trên diễn đàn văn học của Chư
vị Lịch Đại Tổ Sư c̣n lưu truyền đến ngày hôm nay và ngàn
sau.
Bằng thực chứng giá trị bề dày lịch
sử văn học tư tưởng Phật Giáo và dân tộc Việt Nam xuyên suốt
qua tác phẩm Toàn Tập Trần Nhân Tông, một tác phẩm toàn
bích, trên hai phạm trù thế gian và xuất thế gian của kẻ sỹ.
Nói đến Vua Trần Nhân Tông là nói
đến bậc xuất trần vi thượng sỹ. Nói đến bị Bồ Tát hóa thân
vào đời, ḥa quang đồng trần để độ sinh. Nhà Vua đă đem tài
danh thật đức của ḿnh để an bang tế thế, xây dựng nước nhà
thanh b́nh thạnh trị. Dân tộc được ấm no, quốc gia phú
cường để từ đó thăng hoa trong cuộc sống tâm linh là chuyển
mê khai ngộ, đổi phàm thành thánh.
Toàn Tập Trần Nhân Tông đă phô bày
một cách thật rơ nét qua Vương vị và Thánh vị của nhà Vua.
Là Vương vị, nhà Vua là anh hùng dân tộc đă viết nên ḍng sử
oai hùng bảo vệ giang sơn gấm vóc, quét sạch ngoại xâm ra
khỏi bờ cơi, xây dựng một nền ḥa b́nh chân chính cho dân
cho nước. Công cuộc bảo vệ giang sơn này, qua chương III và
IV, Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh bảo vệ quốc gia
dân tộc năm 1285, 1288 qua các trận Nội Bàng, Vạn Kiếp, B́nh
Than, Thăng Long, Hàm Tử, Chương Dương, Như Nguyệt... chúng
ta ngưỡng mộ tài thao lược, anh hùng túc trí của nhà vua hy
sinh v́ dân v́ nước. Là Thánh vị nhà Vua đă bỏ ngai vàng
điện ngọc để đi tu và thành Tổ Đức. Nhà Vua là Sơ Tổ của
Thiền Phái Trúc Lâm, một ḍng Thiền thực thụ của Phật Giáo
Việt Nam. Nhà Vua đă đề ra tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo và được
coi là cốt lơi, yếu chỉ ḍng Thiền:
�Trần tục mà nên, phú ấy càng yêu
hết sức,
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá
đồ công.�
Hay là:
�Sạch giới ḷng, dồi giới tướng,
Nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.
Ngay thờ Chúa, thảo thờ Cha,
Đi đổ mới trượng phu trung hiếu.�
Và cuối cùng là Bộ Từ Điển Bách Khoa
Phật Giáo Việt Nam gồm 2 tập. Đây là một công tŕnh khảo
cứu tập thể của quư Thầy học tăng trong các Phật Học Viện
Hải Đức Nha Trang, Quảng Hương Già Lam. Nhưng phần chủ biên
và hoàn thành Từ Điển vẫn là công tŕnh của Thượng Tọa Tuệ
Sỹ và Sử Gia Lê Mạnh Thát đồng tác giá.
Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt
Nam được có mặt ngày hôm nay, dù rằng chỉ có được 2 tập là A
Tập I, từ A đến A Di Đà và A Tập II, từ A Di Đà đến A Di Đà
Tự, chưa hoàn tất toàn bộ Từ Điển Phật Học. Nhưng, rơ thật
là một sự nỗ lực vượt bậc để cống hiến cho sự t́m hiểu tra
cứu về từ ngữ Phật pháp và cũng nói lên tâm nguyện chí thành
của Chư vị Tôn Túc có cái nh́n sâu xa, suốt chặng đường lịch
sử văn học Phật Giáo hiện đại.
Bằng việc làm của đàn hậu duệ, bằng
khả năng sơ lậu của người học tṛ mang khai, giới thiệu các
tác phẩm của Thầy, Sử gia Lê Mạnh Thát, chúng tôi có cảm
tưởng như làm công việc vốc muối bỏ biển, đội đá vá trời.
Tuy nhiên khi nghĩ đến công ơn của bậc giáo thọ sư tài bồi
huấn dục qua bao năm tháng, nên mạo muội tự nhủ ḿnh trải
tấm ḷng thành, ngơ hầu có chút phần nào nghĩ về Thầy trong
muôn một. Do vậy, nên chỉ có đôi lời b́nh dị để nói lên
công tŕnh khảo cứu ngàn đời của ḍng lịch sử văn học nước
nhà mà Thầy là một sử gia trác việt anh tài, đă cấu trúc
thành những chuỗi chứng tích, tư liệu ḍng lịch sử đó. Trước
khung trời kiến văn quảng bác, trí tuệ siêu nhiên của Thầy
và những kho tư liệu vô giá của lịch sử văn hóa, chỉ biết
ḿnh đang là kẻ ḍ dẫm lần bước. Ngưỡng mong Thầy từ bi
lượng thứ.
Kính mong Chư Tôn Đức, Chư vị thức
giả cao minh, rộng ḷng cảm thông, hỷ xả cho những điều thất
thố.
Nam Cali, 11 tháng 06, 2005
Nguyên Siêu
SOME
EXPERIENCES OF THE PROTECTION
OF THE BUDDHIST CULTURE IN VIETNAM
Prof. Dr.
Le Manh That
Viet Nam Buddhist University in Sai Gon city
Since Tran Van Giap published his serious study on
Vietnamese Buddhism from the origin to 13th century in
1932*, relying mainly on Thien Uyen Tap Anh, other
works on the history of Vietnamese Buddhism usually
complained on the scarcity of the materials relating to that
subject on the part of Viet Nam. This is quite
understandable, if we only look into those books catalogues
on Buddhism in the olden days of Vietnam like those of Le
Quy Don and Phan Huy Chu as well as the 20th century study
on bibliography of Viet Nam**. So, the task of any
researchers on Vietnamese Buddhism and culture is to try
finding out if there exist any new materials written by
Vietnamese Buddhist authors which are still extant. This is
what I have done when I embarked upon studying of Vietnamese
Buddhism. In the September of 1974, just coming back from
the United States, I started out on a field trip to Central
Vietnam from Quang Tri to Binh Thuan and focused on to two
areas which are likely to have those kinds of materials,
i.e. Hue and Binh Dinh-Phu Yen.
Through that trip, the result is quite encouraging. At
least, nearly forty authors have been discovered with
approximately hundreds of manuscripts and books found the
first time known to us. The way of how we go about finding
out those works and manuscripts is quite interesting and
neccessary. First of all, we went to those temples which are
known to be the places where famous zen masters have been
living. Some of them did give us precious manuscripts and
works, but some did not. Instead, in some temples located in
the far-away rural areas, we unexpectedly discovered some
old printed copies and manuscripts. Secondly, we came to
those families famous for their role played in the history
of Vietnam. The same case occurred. Some did possess new
materials and others did not.
After collecting those manuscripts and printed works,
we brought them back to Van Hanh University and carried out
textual studies for determining the authorship as well as
the authenticity of the materials in order to multiply them
through publication. Among the authors discovered, up to
present day, we have published 7 of them, i.e., Kim Son
(1976), Tran Thai Tong (2004), Tran Nhan Tong (2001), Minh
Chau Huong Hai (1982), Chan Nguyen Tue Dang (1977-1980),
Toan Nhat Quang Dai (1978), Minh Chau Huong Hai (1982), Phap
Lien (1982), Tran Nhan Tong (2001), Tran Thai Tong (2004)
and Chan Dao Chinh Chanh Thong (2004) with 45 works known
for the first time to the scholarly world. Others will be
published soon.
In order to further research works in other scientific
field than Buddhist studies, since the year 2000, Vietnam
Buddhist University was launched a project publishing a
series entitled General Collection complete works of
Vietnamese Buddhist Literary Works so that it can
provide materials to students of literature, history,
humanities and thought in Vietnam with high degree of
accuracy and authenticity. This project up to present time
already gives out three volumes I (2000), II (2001), III
(2002) which cover materials up to the XIIth century. Others
volumes will come out soon. So, those are some experiences
of our works in protecting the Buddhist cultural heritage of
Vietnam in relation to manuscripts and old printed works,
using Chinese and demotic characters.
From these experiences, we are thinking about
broadening the area of investigation. We know that a lot of
Buddhist materials in Cambodia have been destroyed during
Pol Pot Yang Ieng Sary regime and when the Royal Government
of Cambodia has been established, they went to Vietnam,
discussed with the Vietnamese Government and asked the
Vietnamese Government to help in recovering those Buddhist
materials of Cambodia which still exist in Vietnamese
Buddhist Khmer temples. They did find a number of these
materials existing in these temples which they are planning
to publish in the near future. This is a case of protecting
the Buddhist cultural heritage in Cambodia on a regional
scale.
Beside Vietnam and Cambodia, Buddhism is still a
living part of the cultural life in many other South East
Asia n countries such as Laos, Thailand, Myanmar, Malaysia,
Singapore and Indonesia. Therefore, in any Buddhist strategy
for world peace and sustainable development, we think
culture plays an important role in contributing to the
realization of the mutual understanding between different
peoples of different social, ethnic and economic
backgrounds. But when talking about the culture of any
country, the first thing we think of is her old printed
books and manuscripts. That is why the need of protecting
the Buddhist cultural heritage in those countries in form of
old printed books and manuscripts are quite a prominent and
pressing issue. We believe that like in the case of Vietnam
and Cambodia, these countries in South East Asia may still
possess materials related to Buddhism which are still
scattered around and which are in need to be surveyed and
collected so that the study of Buddhism and other cultural
and historical subjects in these countries could be carried
out with fruitful results.
In order to undertake this kind of work, we propose
that the UNESCO can lend a helping hand by establishing,
organizing and financing a regional committee of
investigation on Buddhist legacy in South East Asia. We
trust that such a committee would make a great contribution
to the protection of Buddhist cultural heritage by finding
out and cataloguing Buddhist materials which still exist in
the form of manuscripts and old printed books and remain
unknown to us up to this moment, so that the preservation
works can be carried out appropriately an d scientifically.
This kind of work can not only recover the materials
which might be thought to be lost forever and make them
available to national and international researchers on the
subject of Buddhism and other related areas such as history,
culture literature, linguistics , etc… of the country in
concern, but also create conditions for them to last longer
and have bigger public interest which otherwise would be
having shorter life and limited circulation. So, we
earnestly hope that the UNESCO and the governments of South
East Asian countries through their higher learning
institutions would be in close cooperation with each other
in order that such a project could come to life soon.
T.T Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát
Đừng làm các điều ác,
Hăy làm các điều lành
Giữ tâm ư trong sạch
Đó là lời Phật dạy
Kinh Pháp Cú
Copyright 2005 www.thaoluanphatphap.net . All Rights Reserved.
Email To WebMaster:
DươngTiêu
|