- Hôm nay, hai cô này đi chung với mình cho vui đây.
Tôi kín đáo liếc nhìn sang hai cô. Cô tên Mỹ
Dung có nước da trắng trẻo, gương mặt tròn đầy, đôi
mắt to sáng long lanh, miệng hơi móm, nhưng lúc cô
cười trông rất là có duyên.
Còn cô Giang nước da hơi tái, nhưng lại có thân
hình cân đối, mặt mũi thanh tú, thuộc loại có duyên
ngầm.
Tự dưng tôi nổi máu ga-lăng, tôi nói, giọng êm
ái, lịch sự:
- Mời hai em ra xe, đồ đạc cứ để đấy cho anh.
Trong lúc xách đồ cho hai cô, tôi chợt hối hận.
Thay vì xách đồ cho chị Nghĩa trước, tôi lại đi xách
những túi, những giỏ mà tôi cứ thắc mắc: sáng đi,
chiều về mà sao lại mang nhiều thế này.
Cuối cùng chiếc xe cà tàng của chúng tôi cũng
bon bon trên xa lộ 35E, trực chỉ Oklahoma.
Cùng chạy theo xe chúng tôi là gia đình anh Minh,
chở cô Diệu Hiền và các cháu Minh Thư, Nhất Tâm, bé
Lucky cho hai xe cùng có bạn với nhau . Theo dự báo
thời tiết tôi xem trên TV tối hôm qua, hôm nay trời
rất đẹp, nhiệt độ hiện thời là 75 độ F, trời trong
và có nắng ấm áp, chỉ có gió là hơi mạnh một tí. Vì
đang là mùa xuân nên cây cỏ tốt tươi. Trên thảm cỏ
xanh hai bên đường, muôn cánh hoa dại muôn màu, muôn
vẻ, khoe sắc trải dài đến ngút tầm mắt.
Tôi với tay bật radio. Trên làn sóng điện của
đài VAB, chúng tôi nghe giọng cô Như Tuyền đang cười
khúc khích rồi bỗng nhiên âm thanh chuyển sang rè
rè.
Chị Nghĩa nhìn sang rồi nói :
- Chắc mình vừa ra khỏi vùng phát sóng của đài,
vậy là khỏi nghe.
Tôi với tay tắt radio, rồi tiếp tục câu chuyện
phiếm đang bỏ dở với chị, đại khái những chuyện thời
tiết, làm ăn và những dự định của Nhóm sau này.
Hai bên đường, những hàng cây tiếp tục chạy
ngược về phía sau, tiếng động cơ xe vẫn đều đều, mọi
người có vẻ mệt mỏi, vì thức quá khuya tối đêm
trước. Tôi liếc nhìn kính chiếu hậu, sau lưng tôi
Giang đang nửa nằm, nửa ngồi hai mắt nhắm lơ mơ, nét
mặt vô tư, thỉnh thoảng cô lại duỗi chân đạp vào
lưng ghế tôi liên hồi. Phía băng ghế bên kia, Mỹ
Dung dường như cũng đang ngủ say. Cô nằm nghiêng,
người hơi co lại, hai tay ôm chặt lấy chú gấu nhồi
bông, thỉnh thoảng tôi nghe cô âu yếm, thì thầm câu
gì đó không nghe rõ. Tôi chợt mỉm cười : Chắc cô
đang trong giấc mộng đẹp. Phía sau xe, anh Minh vẫn
giữ vững tay lái, lấp loáng qua gọng kính trắng.
Chị Nghĩa đang mơ màng ngắm cảnh vật bên ngoài,
chợt chị che miệng ngáp rồi quay sang hỏi tôi :
- Mình đến đoạn nào rồi hả em?
Tôi bỗng giật mình :
- Thôi chết rồi, thay vì tiếp tục 35E mình lại
lạc sang free way 40.
Thế là chị hớt hải bấm phone liên lạc với xe
anh Minh phía sau, cho biết chúng tôi sẽ xuống exit
tới. Tôi giảm dần tốc độ, xe chúng tôi rẽ vào con
đường nhỏ phía trước. Hai bên đường vắng hoe, cảnh
vật buồn hiu. Vài cụm cỏ vàng úa chen lẫn trong
những bụi cây gai. Bên phải là bãi đất hoang, cây cỏ
mọc um tùm, chen chúc những tảng đá nhỏ, nhấp nhô
những mộ bia nằm xiêu vẹo, rải rác trông như một
nghĩa trang bị hoang phế từ lâu. Xa xa là cánh rừng
âm u, nhiều cây to cành lá uốn éo như một đám người
quơ tay, múa chân trông thật kỳ quái. Xa hơn nữa,
tít phía chân trời từng vùng mây lớn đùn lên, xô đẩy
nhau trông thật dữ dội.
Hai cô phía sau đã thức giấc. Một cô dụi mắt
hỏi tôi :
- Mình tới rồi hả anh ?
Tôi đang bực mình vì bị lạc chưa tìm đường ra,
sẵng giọng:
- Đến đâu mà đến, lạc rồi.
Nhưng rồi tôi nẩy ra một ý nghĩ, tôi dịu giọng
xuống:
- Chốc nữa nếu mình thấy có người, nhất là đàn
ông, anh sẽ rề xe lại, hai em xuống xe rồi cứ để
quần áo xốc xếch, chạy lại hớt hơ, hớt hải mà la to
: I'm lost ! I'm lost ! Thế nào mình cũng được giúp
đỡ tận tình...
Hai cô khoái chí với ý kiến tôi, cười khanh
khách.
Chị Nghĩa chen vào :
- Chắc mình kiếm cây xăng vô hỏi cho dễ.
Xe chúng tôi tiếp tục chạy qua vài con đường
nhỏ, nhưng vẫn không thấy cây xăng nào, chỉ thấy một
building cũ kỹ trông như nhà thương nằm chơ vơ bên
cạnh cánh rừng kỳ quái và bãi đất hoang đầy cỏ khô.
Lác đác vài chiếc xe đậu ngoài parking, nhưng tuyệt
nhiên không có bóng người. Tôi chạy xe vòng ra phía
sau, rồi đậu bên ngoài con đường nhỏ. Tôi bước ra
ngoài dặn :
- Chị Nghĩa và mấy đứa ở đây nghe, em vô hỏi
đường rồi ra liền.
Chị gật đầu nhìn tôi với cặp mắt lo ngại.
Tôi bước lần về phía parking phía sau. Vẫn
những chiếc xe hiệu Ford, Beatle, Nova to tướng cũ
kỹ, móp méo, đậu nghiêng ngã dọc theo bờ tường trông
như những nấm mồ hoang, loại xe của nhiều thập niên
trước, gợi lại hình ảnh chiếc xe cũ của ba tôi mà
ông đã mua lại của người Mỹ già hồi ông mới sang,
khoảng ba mươi năm về trước. Tôi vẫn chậm rãi bước
về phía trước. Bên phải tôi là một cánh cửa được
khóa chặt bằng một chiếc khóa to đùng, hoen rỉ.
Khoảng giữa là bức tường gạch đã bạc màu, rêu phong
cùng với thời gian, lất phất vài tấm mạng nhện phía
trên. Bên trái, phía ngoài hành lang là một bức
tường xây chắn ngang, kiểu bình phong che khuất phía
ngoài parking. Thấp thoáng phía trong là cánh cửa
được khép chặt. Lối đi nhỏ hẹp, tối mờ mờ... Một con
chuột to đùng lông rụng từng mảng, lộ ra những
khoảng da đỏ ửng từ bên rừng cây chạy vụt qua trước
mặt tôi, rồi biến mất vào góc hành lang phía trong.
Tôi bước vào hành lang đến bên cánh cửa, ho vài
tiếng làm hiệu rồi khẽ gõ nhẹ vài tiếng. Không một
tiếng trả lời. Tôi gõ mạnh hơn. Lần này để trả lời
tôi chỉ là tiếng vang dội trong hành lang hoang
vắng, lẫn với tiếng lá khô xào xạc trên mặt đường,
tuyệt nhiên không một tiếng động nào khác, không
gian im vắng lạ thường. Một nỗi cô đơn lạ lùng bỗng
dưng tràn ngập tâm hồn tôi, thứ cô đơn của kẻ duy
nhất đang đứng trong một không gian không còn sự
sống. Trong hoàn cảnh bất thường ấy, giác quan tôi
bỗng nhiên tinh tế lạ thường. Dường như có rất nhiều
"người" đang hiện diện quanh đây: ngoài mé rừng, vắt
vẻo trên cành cây, ngoài parking, trong hành lang
tăm tối và ngay cả đang âu yếm khoác tay lên vai
tôi, rồi còn nhìn chòng chọc vào mặt tôi nữa. Quyết
định nhìn vào bên trong, tôi cẩn thận phủi lớp bụi
mờ trên cánh cửa, làm thành một vòng tròn, rồi áp
mặt nhìn vào. Trong ánh sáng mờ mờ, tôi trông rõ
từng hàng giường loại nhà thương, trên ấy những tử
thi được phủ cẩn thận bằng những tấm drap đã ngả màu
cháo lòng. Trên một chiếc giường gần cửa, một bàn
chân thò ra phía ngoài, móng bầm đen, đặc biệt ngón
chân cái bị chuột khoét từng mảng lớn. Rồi như có
cơn gió bí ẩn nào đó thổi nhẹ lên trên xác, một mảng
drap lật ra lộ rõ nửa gương mặt người chết, mái tóc
dài bết sát vào má, hố mắt sâu hoắm...Cảm thấy mình
không nên nán lại đây lâu hơn nữa, tôi vội vàng quay
phắt người lại và đi nhanh ra xe.
Chị Nghĩa nhìn tôi chờ đợi, rồi nói :
- Trong ấy người ta chỉ đường sao rồi?
Tôi trả lời nhát gừng :
- Hừm ... mà sao không thấy ai trong đó hết.
Tôi chạy xe nhanh ra góc đường rồi quẹo phải.
Một cây xăng hiện ra ở góc đường.
Tôi lẩm bẩm :
- Lạ quá, sao lúc nãy mình lại không thấy.
Cả xe vui mừng như bắt được của :
- Quẹo vô. Lẹ lên, lẹ lên.
Vâng, đó là cây xăng Shell với logo hình vỏ sò
màu đã bạc thếch. Phía trước cửa tiệm, tấm bảng hiệu
to tướng đề hai chữ "Food Mart" sập xuống một góc.
Không thấy một khách hàng nào. Tôi bước ra xe, anh
Minh đến bên cạnh tôi nói :
- Chắc cây xăng đóng cửa rồi.
Nhưng không, bên trong chúng tôi thấy ánh đèn
mờ mờ.
Anh nói tiếp :
- Vậy là có người rồi.
Chúng tôi bước lại mở cửa. Bên trong, sau bàn
cashier là gã đàn ông da trắng dáng vẻ mệt mỏi trông
như người bệnh, đang giương cặp mắt lờ đờ nhìn chúng
tôi, lòa xòa những mảng tóc che rợp hai bên má. Tôi
đứng lại nhìn quanh quất. Tiệm trông thật nghèo nàn,
vài bịch bánh kẹo nằm lăn lóc trên kệ phủ đầy bụi.
Đặc biệt tại đây có bán rất nhiều loại đồ chơi cho
loài chó, thứ hình dạng xương ống quyển, loại đã róc
hết thịt, trông trắng hếu ở đoạn giữa, cù lẳng hai
đầu màu xám xịt, trông rất thật, hơn những tiệm khác
mà tôi từng thấy, thật như loại xương mới bốc từ mả
lên...
Phía bên kia, anh Minh đang hỏi đường với gã
cashier, tay chỉ chỏ ra phía ngoài. Tôi thong thả
tiến lại gần. Từ dưới bàn cashier, một bàn chân mang
chiếc giày há mõm thò ra ngoài nhịp nhịp, thấp
thoáng những móng chân bầm đen, ngón cái thịt khuyết
từng mảng lớn...Tôi lạnh người, quay phắt ra ngoài
như chạy.
Anh Minh bước theo tôi ra ngoài vui vẻ, anh nói
giọng phấn chấn :
- Bây giờ mình cứ theo đường này quẹo phải đường
Martin Luther King, chạy hoài sẽ gặp đường Eastern,
tiếp tục chạy nữa sẽ đến chùa số 1234 bên trái .
Tôi cho xe vọt lẹ. Chị Nghĩa cằn nhằn :
- Ở đây đường sao mà dằn và xốc quá.
Tôi ba phải cho qua chuyện:
- Chắc tại mình đang ở miền quê.
Tôi tiếp tục theo xe anh Minh thấp thoáng phía
trước trên đường Martin Luther King, rồi Eastern,
tôi tiếp tục chạy mãi, chạy mãi...Trong xe lặng như
tờ, đầu óc tôi mờ mịt như người mất trí, may sao có
tiếng phone reng, kéo chúng tôi ra khỏi cơn mê, trở
về thực tại. Giọng anh Minh nghe sang sảng :
- Ủa, mấy người đang ở đâu vậy ? Tôi đến chùa hơn
nửa tiếng rồi nè. Cứ chạy thẳng là tới mà. Tôi cho
xe chạy chậm chậm, phía bên trái tôi là cây xăng khi
nãy. Vẫn là cái logo sơn đã bạc màu, duy cửa tiệm
giờ đây chỉ là bốn bức tường hoang phế. Tôi hừ lên
một tiếng: Vậy là nãy giờ tự nhiên tôi lại chạy lên,
chạy xuống cả tiếng đồng hồ. Tôi đấm mạnh vào không
khí rồi nhấn mạnh chân ga. Chị Nghĩa hát vu vơ: “Anh
khách lạ đi lên đi xuống…” Cả bọn chợt cười. Và thật
vậy khoảng 25 phút sau, chúng tôi đã có mặt ở Thiền
viện Chánh Pháp…
Thiền viện Chánh Pháp là ngôi chùa mới thành
lập khoảng vài ba năm nay, tọa lạc trên ngọn đồi
thấp bốn bề gió lộng. Bấy giờ là mùa xuân, khí trời
ấm áp, cây cỏ tốt tươi, muôn hoa khoe sắc. Chúng tôi
thay nhau chụp hình trước cổng chùa trước khi vào
dùng cơm chay bên trong. Sau khi ăn uống no nê,
chúng tôi được mời lên chánh điện nghe thầy trụ trì
thuyếp pháp.
Khi chúng tôi bước vào, mọi người hầu như đã đủ
mặt trong những chiếc áo tràng màu lam nhạt, trên
nền gạch trắng bóng. Xung quanh cách bài trí đơn
giản nhưng trang nghiêm. Phía trên cao, Đức Từ Phụ
với hào quang tỏa sáng bao trùm vạn vật, ánh mắt
Ngài từ bi như nhắc nhở chúng tôi những người Phật
tử luôn tinh tấn trên đường tu học. Trụ trì Thiền
viện Chánh Pháp là Thượng tọa Thích Thông Triết,
dáng vẻ trầm mặc, tai to, mày dài, mắt sáng đúng nét
một vị thiền sư. Để mở đầu bài thuyết pháp, thầy ra
một câu đố vui:
- Đố quý vị, một con trâu mà chúng ta không gọi
trâu đực hoặc trâu cái, thì gọi là trâu gì ?
Tôi nghệch mặt, ngẩn tò te. Tôi bí. Tuy biết
rằng dưới này có người biết. Bên nữ tiếng ồn ào bàn
tán xôn xao nhưng vẫn không tìm được câu trả lời
thỏa đáng. Vài cô quên mình đang ngồi trong chánh
điện trang nghiêm, đang xếp bằng bỗng duỗi chân ra,
nói cười ngả nghiêng...
Thầy cười cười rồi trả lời :
- Trâu nghé !
Tôi lẩm bẩm :
- Đơn giản vậy mà mình cũng không biết.
Vâng, nó đơn giản nhưng không...đơn giản như
những câu chuyện trong những bài giảng kế tiếp của
thầy nói về kiến tánh, mà có lẽ phải dùng đến trực
giác tôi mới hiểu nổi.
Vâng lời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Lục Tổ Huệ Năng tiếp
thu y bát, rời bỏ Đông Sơn, sợ đồ chúng của Thần Tú
đuổi theo.
Trần Huệ Minh vốn là quân nhân xuất thân, cước bộ
rất nhanh đuổi kịp Huệ Năng. Thấy Huệ Minh đến, Huệ
Năng vội đặt y bát trên một tảng đá rồi vào núp sau
một khóm cây. Huệ Minh thấy y bát mà không sao nhấc
lên được, quỳ xuống thưa:
“Tôi đến đây không phải vì y bát mà là cầu pháp.”
Lục Tổ nói:
“Nếu ông đến đây để cầu pháp thì trước hết hãy
dẹp hết ngoại duyên tư niệm, ta sẽ vì ông mà nói
pháp.”
Huệ Minh lạy tạ, lúc đó Lục Tổ nói :
“Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính ngay lúc
ấy cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh.”
Huệ Minh nghe xong đại ngộ,
liền quay trở lui.
Hay tuyệt, vậy mà lâu nay tôi lại "cỡi trâu đi
tìm trâu", nhưng vì ác nghiệp còn sâu dày, nên phút
sau tôi lại phải "cỡi trâu".
Trở lại vấn đề chính của chúng tôi tối hôm nay
là chương trình văn nghệ góp vui, với chủ đề ca ngợi
đạo pháp, qua đó dùng lời kinh, ý Phật truyền đạt
đến quý khán, thính giả với những ca khúc rất có giá
trị do hai nhạc sĩ Khánh Hoàng và Khánh Hải sáng
tác. Hai anh là những nhạc sĩ có tài cũng như rất có
tâm đạo, đang tiếp tay trong công cuộc truyền bá
Phật pháp.
Để chuẩn bị cho buổi văn nghệ hôm nay, trưởng
nhóm chúng tôi, chú Tuệ Kiên đã bỏ công đến trước
chúng tôi hai ngày để tu học và quan sát sân khấu.
Dáng người tầm thước, vẻ quảng giao, kiến thức sâu
rộng và dĩ nhiên cũng rất là tài hoa, những thi phẩm
của chú đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. |